Một số khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp theo nghị định 122/2011/NĐ-CP

Một số khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp theo nghị định 122/2011/NĐ-CP

Dự án đầu tư trong và ngoài nước – Tư vấn Hợp đồng
Thành lập doanh nghiệp & và thay đổi ĐKKD
Bảo hộ độc quyền & xử lý vi phạm Sở hữu trí tuệ
Đất đai-Hôn nhân-Hình sự
Hôn nhân – Tài sản
Pháp luật thuế
Tư vấn đầu tư & Sở hữu trí tuệ
Thành lập doanh nghiệp & Đăng ký kinh doanh

Hôm qua có
1730 truy
cập

Hôm nay có
447 truy
cập

Số lượt truy cập
9652665


BRANDCO LAWFIRMNgày 27/12/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 122/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Nghị định 122). Nghị định mới đã bổ sung và làm rõ một số khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Nhằm giúp các doanh nghiệp hiểu rõ hơn về những điểm mới cơ bản liên quan đến các khoản chi này, Chúng tôio giới thiệu tới các doanh nghiệp và quý khách hàng bài viết dưới đây.

Hà Nội, ngày 06 tháng 02 năm 2012

Tác giả: Luật sư Nguyễn Văn Thi, cử nhân luật Phạm Thị Hương Lan

 

Với vai trò là một trong những nguồn thu có hiệu quả của ngân sách nhà nước và là công cụ điều tiết của chính sách kinh tế, hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp của nước ta đã phát triển trải qua nhiều giai đoạn với quan điểm xây dựng luôn thống nhất ở mấy nội dung sau:


Cơ sở của Thuế thu nhập doanh nghiệp được định nghĩa là sự khác biệt giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Tổng doanh thu bao gồm không chỉ thu nhập từ bán hàng và cung cấp dịch vụ mà còn cổ tức, thu nhập lãi và thu nhập vốn khác như thu nhập từ chuyển nhượng tài sản… Sự khác biệt này cùng với yêu cầu tái phân phối thu nhập trong xã hội, nhu cầu tài chính của Nhà nước, các chính sách ưu đãi, khuyến khích hay hạn chế sự phát triển của các thành phần, các lĩnh vực, vùng kinh tế tạo nên hệ thống pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp.


Và cũng như các thuế thu nhập khác, hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp cho phép khấu trừ  thuế, tức là giảm thu nhập chịu thuế, đối với nhiều mục khác nhau, đặc biệt là các chi phí phát sinh để tạo ra thu nhập. Nhưng đi kèm với nó là những hạn chế và điều kiện nhất định. Thường thì, danh mục các chi phí được khấu trừ sẽ căn cứ vào một trong những nhận định mang tính nguyên tắc: Những chi phí nào là thông thường và cần thiết nhất đối với doanh nghiệp? Điều này có nghĩa là những chi phí phải phù hợp với doanh nghiệp, giúp tạo ra thu nhập và thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh.


Đứng từ phía các doanh nghiệp là đối tượng nộp thuế, có lẽ mối quan tâm hàng đầu không gì khác là các chi phí được trừ nói trên. Làm thế nào để hợp pháp, hợp lý các khoản chi phí này, chúng tôi xin dẫn chiếu đến quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam và có một số khuyến nghị đối với quý doanh nghiệp như sau:


Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 và Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

         Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

         Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

         Khoản chi không đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, trừ phần giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường;

         Khoản tiền phạt do vi phạm hành chính;

         Khoản chi được bù đắp bằng nguồn kinh phí khác;

         Phần chi phí quản lý kinh doanh do doanh nghiệp nước ngoài phân bổ cho cơ sở thường trú tại Việt Nam vượt mức tính theo phương pháp phân bổ do pháp luật Việt Nam quy định;

         Phần chi vượt mức theo quy định của pháp luật về trích lập dự phòng;

         Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hóa vượt định mức tiêu hao do doanh nghiệp xây dựng, thông báo cho cơ quan thuế và giá thực tế xuất kho;

         Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay;

         Trích khấu hao tài sản cố định không đúng quy định của Bộ Tài chính, bao gồm: Khấu hao đối với ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống (trừ ô tô dùng cho kinh doanh vận tải hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn) tương ứng với phần nguyên giá vượt trên 1,6 tỷ đồng/xe; khấu hao của tàu bay dân dụng, du thuyền không sử dụng kinh doanh vận chuyển hàng hóa, hành khách, kinh doanh du lịch, khách sạn.

         Khoản trích trước vào chi phí không đúng quy định của pháp luật;

Các khoản trích trước bao gồm: Trích trước về sửa chữa lớn tài sản cố định theo chu kỳ, các khoản trích trước đối với hoạt động đã hạch toán doanh thu nhưng còn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng, các khoản trích trước khác theo quy định của Bộ Tài chính.

         Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh; tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán khác để trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật;

         Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp; lãi vay vốn để triển khai thực hiện các hợp đồng tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí.

         Thuế giá trị gia tăng đầu vào đã được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng nộp theo phương pháp khấu trừ, thuế thu nhập doanh nghiệp; các khoản thuế, lệ phí và thu khác không được tính vào chi phí theo quy định của Bộ Tài chính;

         Các khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế;

         Phần chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới (không bao gồm hoa hồng môi giới bảo hiểm theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, hoa hồng đại lý bán hàng đúng giá); chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh vượt quá 10% tổng số chi được trừ. Đối với doanh nghiệp mới thành lập từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 là phần chi vượt quá 15% trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập; Tổng số chi được trừ không bao gồm các khoản chi quy định trên đây; đối với hoạt động thương mại không bao gồm giá mua hàng hoá bán ra.

         Khoản tài trợ, trừ khoản tài trợ cho giáo dục, y tế, khắc phục hậu quả thiên tai và làm nhà tình nghĩa cho người nghèo theo quy định của pháp luật.

         Phần chi phí được phép thu hồi vượt quá tỷ lệ quy định tại hợp đồng dầu khí được duyệt; trường hợp hợp đồng dầu khí không quy định về tỷ lệ thu hồi chi phí thì phần chi phí vượt trên 35% không được tính vào chi phí được trừ;

Các chi phí không được tính vào chi phí thu hồi gồm:

+        Các khoản chi quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;

+        Chi phí phát sinh trước khi hợp đồng dầu khí có hiệu lực, trừ trường hợp đã được thoả thuận trong hợp đồng dầu khí hoặc theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ;

+        Các loại hoa hồng dầu khí và các khoản chi khác không tính vào chi phí thu hồi theo hợp đồng;

+        Lãi đối với khoản đầu tư cho tìm kiếm, thăm dò, phát triển mỏ và khai thác dầu khí;

+        Tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại.

         Chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ cuối kỳ tính thuế; chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản.


Tiếp đó, tại Thông tư số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Thông tư số 18/2011/TT-BTC ngày 10/02/2011 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 130, các khoản chi không được coi là chi phí hợp lệ liên quan đến tiền lương, tiền công và các khoản chi có tính chất tiền lương, tiền công cũng đã được quy định như sau:

         Chi tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán khác để trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

         Các khoản tiền thưởng cho người lao động không được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thoả ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.

         Chi tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao động nhưng hết thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm  thực tế chưa chi trừ trường hợp doanh nghiệp có  trích lập quỹ dự phòng để bổ sung vào quỹ tiền lương của năm sau liền kề nhằm bảo đảm việc trả lương không bị gián đoạn và không được sử dụng vào mục đích khác. Mức dự phòng hàng năm do doanh nghiệp quyết định  nhưng không quá 17% quỹ tiền lương thực hiện.

         Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (do một cá nhân làm chủ); thù lao trả cho các sáng lập viên, thành viên của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.


Ngoài các khoản chi nói trên, mới đây, ngày 27/12/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 122/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (Nghị định 122). Nghị định đã bổ sung thêm và làm rõ một số khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm: 

         Khoản trích lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm (trừ trường hợp doanh nghiệp không thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật);

         Và các khoản chi khác như:

+        Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân;

+        Thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh;

+        Tiền lương, tiền công, các khoản hạch toán chi khác để trả cho người lao động nhưng thực tế không chi trả hoặc không có hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật;

+        Các khoản chi tiền thưởng, chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động không ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức được hưởng tại một trong các hồ sơ sau: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty, tập đoàn; Quy chế thưởng do Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Giám đốc quy định theo quy chế tài chính của Công ty, Tổng công ty.


Như vậy, Nghị định số 122/2011/NĐ-CP về cơ bản thống nhất với các đề xuất của Bộ Tài chính, không tính khoản chi được trừ đối với tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân. Điều này xuất phát từ đặc thù của doanh nghiệp tư nhân.


Theo Luật Doanh nghiệp 2005, đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ sở hữu, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy, nếu doanh nghiệp tư nhân nợ thì chủ doanh nghiệp phải trả nợ thay. Chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đến cùng về mọi khoản nợ đã phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Giữa chủ doanh nghiệp và bản thân doanh nghiệp không có sự tách bạch về mặt tài sản, tài sản của chủ doanh nghiệp cũng là của doanh nghiệp và ngược lại. Phân tích trên cho thấy trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản nợ và thu nhập của doanh nghiệp cũng chính là nợ và thu nhập của chủ doanh nghiệp. Tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân không khác nào một khoản lấy từ túi của chủ doanh nghiệp và lại đổ về túi của chính chủ doanh nghiệp đó. Điều này khác biệt hoàn toàn với mô hình của công ty TNHH một thành viên.


Về các khoản thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh (Không quy định thù lao của thành viên hội đồng thành viên, hội đồng quản trị – hoạt động của các thành viên này với việc biểu quyết các vấn đề của doanh nghiệp vẫn được coi là hoạt động quản lý – do vậy, việc chi trả thù lao là phù hợp), theo chúng tôi, có một logic các nhà làm luật nhận thấy trong trường hợp này: Cá nhân nào không tham gia vào hoạt động của Công ty (dù là hoạt động quản lý điều hành hay hoạt động khác) thì không được trả lương/thù lao và không đưa vào bảng lương. Việc các doanh nghiệp chi trả thù lao cho các sáng lập viên không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh là quyền tự quyết của doanh nghiệp, không chịu sự điều chỉnh hay bất cứ giới hạn nào của pháp luật nhưng sẽ không được coi là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiêp.  


Trong số những khoản chi cho người lao động, có hai khoản chi cũng rất quan trọng đối với các doanh nghiệp là các khoản chi tiền thưởng cho người lao động, và Nghị định 122 cũng bổ sung thêm một khoản khác là chi mua bảo hiểm nhân thọ cho người lao động (khoản chi mang tính chất ưu đãi, khuyến khích lao động) – Hai khoản chi này nếu không được ghi cụ thể điều kiện được hưởng và mức hưởng tại một trong các hồ sơ: Hợp đồng lao động; Thỏa ước lao động tập thể; Quy chế tài chính của Công ty hoặc Quy chế thưởng thì cũng không được tính là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.


Trên thực tế, hai khoản chi này là hai khoản chi phổ biến đối với hầu hết các doanh nghiệp tại Việt nam, tuy nhiên, với thực trạng của các doanh nghiệp hiện nay hầu hết chưa xây dựng hoặc chưa chuẩn hóa được hệ thống các văn bản về nội quy lao động, thỏa ước lao động, quy chế tài chính, quy chế thi đua – khen thưởng, các văn bản về lương cho người lao động như: Hợp đồng lao động, hệ thống thang bảng lương, quy chế nâng lương … Hoặc việc xây dựng các hồ sơ nội bộ nói trên chỉ mang tính chất chung chung, đối phó, gần như sao chép các quy định của luật lao động mà chưa thể hiện được tính chất riêng biệt, đặc định theo các yêu cầu đặc thù của doanh nghiệp, vấn đề hạch toán các khoản chi phí hợp lý nói trên sẽ không thể được thực hiện với các quy định mới tại Nghị định số 122/2011/NĐ-CP.


Rõ ràng, khi Nghị định 122 bắt đầu có hiệu lực thi hành (từ ngày 01 tháng 3 năm 2012), việc xây dựng và chuẩn hóa các văn bản nội bộ: Hợp đồng lao động, thỏa ước lao động, quy chế tài chính, quy chế thưởng …là nhiệm vụ quan trọng và tất yếu doanh nghiệp phải làm. Vai trò của công việc này, theo chúng tôi, sẽ không dừng lại ở các nghĩa vụ thuế, nó là tiền đề, là điều kiện quyết định tính chất nguồn nhân lực của doanh nghiệp, tức là quyết định phần lớn việc doanh nghiệp có thành công được hay không? Bởi một doanh nghiệp có tổ chức chặt chẽ, phù hợp, các chế độ cho người lao động thỏa đáng, công khai, gây dựng được niềm tin cho người lao động thì doanh nghiệp đó đã sẵn sàng để thành công với các quyết sách đúng đắn của mình.


Để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, ngoài dịch vụ tư vấn thuế, Chúng tôio hiện đang cung cấp các dịch vụ liên quan đến các văn bản nội bộ của doanh nghiệp như sau:

         Tư vấn xây dựng hệ thống thang bảng lương, quy chế nâng lương và đăng ký thang bảng lương tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

         Tư vấn xây dựng Thỏa ước lao động tập thể, lấy ý kiến của người lao động và đăng ký Thỏa ước tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

         Tư vấn xây dựng các chính sách phụ cấp và đãi ngộ cho người lao động trong doanh nghiệp.

         Tư vấn soạn thảo Hợp đồng lao động, hồ sơ bảo hiểm xã hội cho người lao động, hài hòa lợi ích giữa các bên và ràng buộc trách nhiệm của người lao động.

         Tư vấn xây dựng quy chế thi đua – khen thưởng, xử lý kỷ luật người lao động.

         Các dịch vụ tư vấn khác trong lĩnh vực lao động


Để cung cấp dịch vụ này, các luật sư, chuyên viên của Chúng tôio sẽ phối hợp với doanh nghiệp:

         Khảo sát thực trạng cơ cấu tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp

         Khảo sát hệ thống văn bản nội bộ của doanh nghiệp

         Tổng hợp những khó khăn, vướng mắc doanh nghiệp đang gặp

         Tìm hiểu định hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới

         Các thông tin khác


Sau khi có được tất cả các thông tin nói trên, Chúng tôio sẽ xây dựng phương án giải quyết yêu cầu của doanh nghiệp, chuyển cho doanh nghiệp xem xét. Các công việc tiếp theo bao gồm:

         Soạn thảo hệ thống văn bản cần thiết để thực hiện công việc.

         Tổ chức các buổi làm việc, lấy ý kiến của doanh nghiệp, của người lao động về các vấn đề có liên quan.

         Cử luật sư, chuyên viên đại diện cho doanh nghiệp làm việc với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

         Cử luật sư, chuyên viên đại diện đàm phán, giải quyết các tranh chấp.

         Hướng dẫn và giải đáp thắc mắc của doanh nghiệp trong toàn bộ các công việc thuộc dịch vụ cung cấp.


Công khai, minh bạch, thuận tiện, đúng pháp luật là những tiêu chí đồng thời là xu thế của xã hội hiện đại. Sự yêu cầu của pháp luật đối với hoạt động của doanh nghiệp, theo chúng tôi, dù sớm, dù muộn cũng sẽ tuân theo các tiêu chí đó. Vì vậy, lời khuyên đưa ra cho các doanh nghiệp là phải đẩy mạnh hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, rà soát, hoàn chỉnh hệ thống văn bản quản lý công ty, đón đầu được các xu thế và giảm sự tác động đến mức thấp nhất khi diễn ra những thay đổi về mặt chính sách, pháp luật của Nhà nước. Với đội ngũ các luật sư, chuyên gia dày dạn kinh nghiệm, Chúng tôio tin tưởng rằng, có thể cung cấp cho doanh nghiệp những dịch vụ tốt nhất và luôn đồng hành cùng các doanh nghiệp trên con đường thịnh vượng và phát triển.  

 

 

Mọi thông tin thắc mắc cần trao đổi liên quan đến các vấn đề trên, xin Quý khách hàng vui lòng liên lạc với Chúng tôi để được hướng dẫn chi tiết.

—————————-

 

VAN PHONG CHINH

Dia chi:        So 1201 – Toa nha N2D – Khu Do thi Trung Hoa – Nhan Chinh  – Ha Noi
Dien thoai:      043. 556 34 88 – 043. 556 34 89 – Fax: 043. 556 34 89 (May le 208)
Website:         
www.brandco.vnwww.camnangphapluat.com.
Email:             
brandcovn@gmail.comcare@brandco.vn

 

CHI NHANH HAI PHONG

Dia chi:            So 180 – Pho Lung Dong – quan Hai An – thanh pho Hai Phong
Dien thoai:      031. 3804242 – Hotline: 090.228.4446
Website:         
www.brandco.vnwww.camnangphapluat.com
Email:             
brandcohp@gmail.combrandcovn@gmail.com

 

WEBSITE: www.camnangphapluat.com  – www.brandco.vnwww.congtyluat.orgwww.luatsuviet.orgwww.camnangphapluat.vn – www.thanhlapdoanhgnhiep.org – www.vanphongluatsu.org – www.chuyennhuongduan.net – www.luatsutuvan.org – www.hopdong.info – www.phapluat.biz – www.phapluatonline.net – www.vietnamlawfirm.net

 

Các tin trước Các tin đã đưa khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *