a) Giá vật tư, hàng hóa kém phẩm chất, hàng lạc hậu so với kỹ thuật và thị hiếu, hàng ứ đọng lâu ngày... nhất thiết không được cao hơn mức giá của vật tư cùng lọai mà phẩm chất còn tốt. Đối với vật tư , thiết bị được gọi là ứ đọng phẩm chất còn tốt thì bán hàng chỉ đạo của Nhà nước.
b) Mức giảm giá hàng kém phẩm chất, hàng lạc hậu so với kỹ thuật và thị hiếu phải tương đương với mức giảm phẩm chất và tỷ lệ giảm phải được tính trên giá chỉ đạo hiện hành của vật tư hàng hóa còn tốt cùng lọai. Tất cả vật tư, hàng hóa kém phẩm chất, hàng lạc hậu so với kỹ thuật và thị hiếu, hàng ứ đọng lâu ngày... các đơn vị kinh tế quốc doanh nhượng bán cho nhau hoặc cho các đơn vị kinh tế tập thể phải theo đúng hướng dẫn hoặc phân phối của cơ quan chủ quản và phải được sử dụng đúng mục đích quy định. Tuyết đối không được tự ý nhượng bán cho nhau để hưởng chênh lệch giá. Thẩm quyền quyết định hạ giá hàng được phân cấp như sau: B1- Vật tư, hàng hóa thuộc danh mục Nhà nước định giá: + Nhượng bán cho các đơn vị kinh tế quốc doanh - Giảm giá dưới 20% do Hội đồng liên ngành đề nghị giám đốc công ty độc lập, liên hiệp các xí nghiệp, Tổng công ty, công ty quyết định. - Giảm giá từ 20% đến 50% do Hội đồng liên ngành đề nghị Bộ chủ quản hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định. - Giảm giá từ 50% trở lên do Hội đồng liên ngành đề nghị cơ quan vật giá có thẩm quyền định giá vật tư, hàng hóa đó quyết định. + Nhượng bán cho các đơn vị kinh tế tập thể Vật tư, hàng hóa kém phẩm chất, hàng lạc hậu so với kỹ thuật và thị hiếu, hàng ứ đọng lâu ngày... nếu được cơ quan có thẩm quyền hoặc thủ trưởng cơ quan chủ quản cho phép bán cho các đơn vị kinh tế tập thể thì giá cả được quy định như sau: - Giảm giá dưới 20% do Hội đồng liên ngành đề nghị cơ quan chủ quản trực tiếp của đơn vị có vật tư quyết định. - Giảm giá trên 20% do Hội đồng liên ngành đề nghị, cơ quan vật giá có thẩm quyền định giá vật tư, hàng hóa đó quyết định. B2- Vật tư hàng hóa ngòai danh mục Nhà nước định giá do giám đốc xí nghiệp, liên hiệp các xí nghiệp, Tổng công ty, công ty quyết định theo sự hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu (nếu là đơn vị địa phương) hoặc của Bộ chủ quản (nếu là đơn vị trung ương) C. Đối với hàng thực phẩm tươi sống bị kém hoặc mất phẩm chất thì phải được giải quyết tiêu thụ kịp thời. Mức giảm giá đối với mặt hàng này do Bộ chủ quản (đối với các đơn vị trung ương ) và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu để quy định cho phù hợp. Trong phạm vi quyền hạn của mình cá Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh có thể ủy quyền cho các đơn vị trực thuộc quyết định mức giảm giá. 4/ Xử lý về mặt tài chính đối với phần thất thu do giảm giá hàng được giải quyết như sau: Phần thất thu do giảm giá đối với vật tư, hàng hóa kém phẩm chất, hàng lạc hậu so với kỹ thuật và thị hiếu, hàng ứ đọng ... đơn vị cơ sở phải tự chịu trách nhiệm về mặt tài chính, không được trừ vào khỏan nộp ngân sách Nhà nước hoặc không được xin Nhà nước cấp vốn bổ xung phần thất thu này Trường hợp đặc biệt do nguyên nhân khách quan (thiên tai, địch phá họai...) gây tổn thất nặng nề thì hội đồng liên ngành kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét quyết định. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, những quy định trước đây của Ủy ban Vật giá Nhà nước , Bộ Tài chính trái với nội dung thông tư này đều không có hiệu lực thi hành. Liên Bộ đề nghị các bộ, tổng cục, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương phổ biến thông tư này đến các đơn vị kinh tế cơ sở trực thuộc. Cuối năm 1986 sơ kết thực hiện báo cáo Liên Bộ bổ sung, sửa đổi ban hành chính thức. KT/CHỦ NHIỆM. ỦY BAN VẬT GIÁ NHÀ NƯỚC PHÓ CHỦ NHIỆM (Đã ký) Trần Xuân Giá KT.BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Hồ Tế