1. Về số tiền thưởng được chi thêm: như đã nhắc lại trong thông tư hướng dẫn số 28-LĐ/TT nói trên của Bộ Lao động, các xí nghiệp được tăng thêm qũy tiền lương kế họach qúy III và qúy IV-1975 để chi thêm về tiền thưởng theo mức độ hòan thành kế họach sản xuất của từng qúy và theo quy định của chế độ quản lý và kiểm sóat chi tiêu qũy tiền lương thuộc khu vực sản xuất vật chất. Tiền tăng thêm được rút ra cùng với tiền lương để chi thêm các khỏan tiền thưởng tính vào qũy lương đã được quy định đối với từng xí nghiệp, nhằm khuyến khích thêm những Thủ tướng Chính phủập thể và cá nhân có thành tích trong việc hòan thành kế họach sản xuất qúy III, qúy IV-1975 của xí nghiệp. Sau khi đã trả tiền thưởng theo đúng chế độ hiện hành rồi, xí nghiệp không được sử dụng số tiền thừa trong qũy lương cuối năm vào việc thưởng khác trùng với hình thức thưởng 3 qũy, hoặc lập qũy riêng ăn uống liên hoan, v.v…(Xem chỉ thị số 33-TTg ngày 5-2-1972 của Thủ tướng Chính phủ và thông tư số 530-VP/KSTL ngày 23-12-1971 của Ngân hàng Nhà nước). Giám đốc xí nghiệp chịu trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh quy định này. Như vậy, tiền thưởng trong lương này hạch tóan vào tổng mức chi về qũy tiền lương năm 1975 của khu vực sản xuất vật chất, ngân sách không phải cấp phát gì cả.
2. Số tiền tăng thêm cho qũy phúc lợi theo đúng tính chất qũy phúc lợi hiện hành là được trích lập từ lợi nhuận xí nghiệp. vì vậy, xí nghiệp được rút số tiền tăng thêm này bằng cách trừ vào lãi nộp ngân sách (nếu xí nghiệp có lãi) hoặc được ngân sách cấp bù lỗ thêm (nếu là xí nghiệp lỗ) trong năm 1975.
3. Về phương pháp hạch tóan kế tóan:
a) Đối với khỏan tiền thưởng tăng thêm thì hàng tháng xí nghiệp căn cứ vào số chi thực tế và hạch tóan như tiền lương bình thường: Nợ TK 20 Sản xuất chính Nợ TK 23 Sản xuất phụ Có TK 96 Thanh tóan với công nhân viên.
b) Đối với khỏan trích phúc lợi tăng thêm thì hạch tóan theo hướng dẫn về tài khỏan 80 và tài khỏan 99 trong hệ thống tài khỏan thống nhất. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trịnh Văn Bính