1. Thông tư này được áp dụng đối với: - Cơ quan đại diện ngọai giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngòai gồm: Phái đòan đại diện tại tổ chức quốc tế, liên Chính phủ; Cơ quan lãnh sự; - Các bộ phận công tác đại diện các Bộ, ngành trong nước: đại diện kinh tế thương mại, tùy viên quân sự, cơ quan tham tán kinh tế văn hóa, quản lý lao động (gọi tắt là các bộ phận công tác đại diện).
2. Thông tư này không áp dụng đối với: - Cơ quan thông tấn báo chí, truyền hình Việt Nam. - Các cơ quan đại diện của các tổ chức doanh nghiệp Việt Nam.
1. Từ năm 1997 trở đi, Bộ Tài chính không cấp kinh phí trực tiếp cho từng bộ phận công tác đại diện mà thực hiện từ khâu lập dự tóan đến cấp phát, quyết tóan với cơ quan đại diện qua Bộ Ngọai giao theo quy định tại Điều 14 Nghị định 183/CP nói trên.
a) Cơ quan đại diện là đơn vị dự tóan ngân sách thuộc Bộ Ngọai giao có trách nhiệm lập dự tóan, chấp hành và quyết tóan ngân sách theo chế độ hiện hành về quản lý ngân sách nhà nước.
b) Bộ trưởng Bộ Ngọai giao có trách nhiệm trước Chính phủ về việc quản lý, sử dụng tài sản, kinh phí của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngòai. Trong quá trình xem xét tổng hợp dự tóan thu chi hàng năm, xét duyệt và tổng hợp báo cáo quyết tóan hàng năm của các cơ quan đại diện, Bộ Ngọai giao phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nhằm xem xét mức kinh phí hợp lý, đảm bảo sử dụng có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu công việc của các bộ phận công tác chuyên ngành cũng như của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngòai.
2. Về quản lý tài sản (bao gồm máy móc trang thiết bị phục vụ công tác, sinh họat) và bất động sản: Các bộ phận công tác hiện đang quản lý, sử dụng tài sản có nguồn gốc mua sắm hoặc thuê bằng nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp và tài sản do các tổ chức, cá nhân trong, ngòai nước tặng biếu đã trở thành sở hữu công có trách nhiệm cùng với cơ quan đại diện tiến hành kiểm kê, lập bản kê cùng giấy tờ, chứng từ gốc và sổ sách theo dõi để bản giao cho cơ quan đại diện tiếp tục quản lý điều hành sử dụng theo chế độ hiện hành.
1. Các bộ phận công tác thực hiện quyết tóan chi tiêu kinh phí đã được ngân sách nhà nước cấp qua Bộ chủ quản trong năm 1996 (kể cả trước năm 1996 nếu chưa quyết tóan) gửi về Bộ chủ quản để tổng hợp xét duyệt quyết tóan với Bộ Tài chính. Công việc này phải kết thúc trước ngày 31/3/1997.
2. Về xử lý các tài khỏan tiền gửi tại Ngân hàng nước sở tại và qũy tiền mặt của bộ phận công tác: Các bộ phận công tác có tiền công qũy gửi trên tài khỏan mở tại Ngân hàng nước sở tại (kể cả lãi tiền gửi) hoặc tiền mặt còn trên qũy tiền mặt và các khỏan tiền đặt cọc chưa đến thời hạn quyết tóan thì tiến hành bàn giao cho người đứng đầu cơ quan đại diện. Tùy theo tính chất từng tài khỏan hoặc khỏan tiền mặt được bàn giao, cơ quan đại diện nhập vào tài khỏan hoặc qũy tương ứng của cơ quan đại diện tiếp tục quản lý điều hành theo chế độ hiện hành và xóa bỏ các tài khỏan mở tại Ngân hàng của các bộ phận công tác trong cơ quan đại diện.
3. Tại thời điểm bàn giao qũy tiền mặt và trên sổ sách tài khỏan có thể số dư thể hiện bằng không (0), số âm (-) hoặc số dương (+): Nếu như số dư "âm" thì cơ quan đại diện không được phép lấy các nguồn khác bù đắp mà bộ phận công tác cần thuyết minh rõ trong quyết tóan 1996 gửi về Bộ chủ quản để Bộ chủ quản bàn với Bộ Tài chính giải quyết. Các khỏan ngân sách nhà nước cấp để chi mua sắm tài sản hoặc sửa chữa nhà cửa trong năm 1996 nếu bộ phận công tác chưa chi thì cơ quan đại diện có trách nhiệm chuyển nộp vào Qũy tạm giữ ngân sách nhà nước và báo cáo về nước cho Bộ Ngọai giao và Bộ Tài chính xem xét quyết định việc sử dụng, không tự động chuyển vào kinh phí năm sau để chi tiếp.
4. Khi bàn giao qũy tạm giữ thì cơ quan đại diện cần kiểm tra tính pháp lý nguồn thu, chi của qũy sự chênh lệch giữa sổ sách tài khỏan và thực tế ghi rõ trong biên bản bàn giao. Số dư trên sổ sách qũy và trên thực tế được chuyển nhập nguyên trạng vào qũy tạm giữ tương ứng tại cơ quan đại diện. Nếu có vấn đề tồn tại ghi trong biên bản bàn giao Bộ Tài chính sẽ xem xét làm việc với Bộ chủ quản trong nước giải quyết và thông báo cho cơ quan đại diện thực hiện.
5. Các khỏan tiền tạm ứng từ công qũy cho tổ chức hoặc cá nhân thì người tạm ứng có trách nhiệm hòan tất việc thu hồi trước khi bàn giao. Trong trường hợp khi bàn giao mà các khỏan tạm ứng vẫn chưa thu hồi kịp thì việc bàn giao vẫn tiến hành, nhưng người tạm ứng tiếp tục thu hồi nộp vào qũy cơ quan đại diện.
6. Thời điểm thực hiện bàn giao giữa các bộ phận công tác đại diện với cơ quan đại diện là 31/12/1996. Việc thực hiện bàn giao để tiến tới thống nhất quản lý tài chính tại cơ quan đại diện cần lập biên bản lưu trữ chứng từ đầy đủ để phục vụ công tác kiểm tra quyết tóan. Các bộ phận công tác có trách nhiệm báo cáo đầy đủ với người đứng đầu cơ quan đại diện về thu - chi kinh phí, tài khỏan và những tồn tại cần giải quyết.