1. Bảo đảm kế họach Nhà nước (khối lượng, chất lượng và thời hạn).
2. Bảo đảm tiền trợ cấp vào tay dân công. Muốn thế, phải đề ra những nguyên tắc phân phối khối lượng và kinh phí một cách hợp tình hợp lý, mặt khác phải lãnh đạo phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật (dụng cụ, tổ chức) để tăng năng suất. Thông tư trước (số 5) của Liên bộ có nhấn mạnh tiền trợ cấp đắp đê không được dùng vào công tác khác ngòai công tác đắp đê theo kế họach của Trung ương và phải dành phần lớn để thù lao dân công. Mỗi người đi đắp đê phải được hưởng một số tiền thù lao nhất định tùy theo khối lượng đất đã thực hiện và không phải bình nghị. Đó là nguyên tắc phân phối theo kế quả lao động vừa để bảo đảm kế họach vừa gây phấn khởi hào hứng đẩy mạnh năng suất. Để bảo đảm tất cả tiền đắp đê đưa xuống hết địa phương, Bộ Thủy lợi căn cứ vào điều kiện đắp đê khó dễ, cao thấp, xa gần của các các triền đê mà phân ra 3 mức trợ cấp bình quân:
1. Lọai dễ: 1 mét khối, trợ cấp 0đ50 2. Lọai khó: 1 mét khối, trợ cấp 0đ60 3. Lọai đặc biệt khó: 1 mét khối, trợ cấp 0đ70 và tính tóan xét cấp kinh phí tùy theo khối lượng từng lọai đê của các khu, tỉnh và thành. Mỗi khu, tỉnh, thành sẽ căn cứ vào kinh phí được Bộ Thủy lợi cấp, vào khối lượng và điều kiện đắp đê khó, dễ, cao, thấp, gần, xa đúng vào thực tế từng vùng, từng nơi trong mỗi triền đê mà phân ra nhiều mức trợ cấp. Nơi nào dễ làm năng suất bình quân cao, thì mức trợ cấp theo thước khối sẽ ít; nơi nào khó lắm, năng suất bình quân thấp, thì mức trợ cấp theo thước khối sẽ nhiều hơn, cứ như thế bù qua sát lại để bảo đảm cấp phát tối thiểu 83% tổng số kinh phí vào tay dân công và thu họach của mỗi ngày công sẽ tương đương nhau trên các công trường nếu đạt được năng suất bình quân. Số tiền dành lại cho mọi khỏan gián tiếp phí và quản lý phí (bao gồm các khỏan bồi thường, tuyên truyền thi đua, thuốc men, tai nạn, mua sắm dụng cụ, xe, tàu vận chuyển, khó khăn đột xuất...) không được quá 17% tổng số kinh phí. Tính tóan cân đối và quy định các mức trợ cấp xong thì ở từng công trường phải công bố mức trợ cấp 1 thước khối đất cho dân công biết. Đối với địa phương nào nhờ công tác chính trị tốt, sinh họat của nhân dân tương đối khá, dân công hăng hái phấn khởi đắp đê bảo đảm khối lượng chất lượng và thời hạn, lại thật sự tự nguyện tự giác không nhận trợ cấp hoặc nhận một mức ít hơn mức trợ cấp đã công bố, thì khu, tỉnh hoặc thành không nên từ chối mà phải báo cáo cho Liên bộ biết, đồng thời phải nộp số kinh phí dôi ra vào công qũy chứ không được dùng cho địa phương khác hoặc cho việc khác. Đây là trường hợp hãn hữu và phải dựa trên cơ sở nhiệm vụ đắp đê và các mức trợ cấp đã được công bố rõ ràng, dân công thật sự tự nguyện, tuyệt đối không vận động một cách gò ép. Các khu tỉnh và thành phải hòan thành nhiệm vụ tốt để bảo đảm khối lượng chất lượng và thời hạn, nhưng không được xin thêm kinh phí vì Bộ Thủy lợi đã phân phối hết số kinh phí Nhà nước quy định cho công tác đắp đê năm 1960. Trong quá trình công tác, cán bộ công trường phải ra sức lãnh đạo động viên thi đua và giao khóan cho dân công. Về phần xã và dân công thì phải có trách nhiệm nhận khóan, hăng hái thi đua cải tiến dụng cụ, cải tiến tổ chức và kỹ thuật, tăng hiệu suất lao động để bảo đảm thực hiện vượt mức kế họach tỉnh, huyện đã giao cho. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ THỦY LỢI THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trần Qúy Kiên K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trịnh Văn Bính K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ LAO ĐỘNG THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Lê Minh Hiền