Căn cứ vào số thuế và thu khác phải nộp ngân sách Nhà nước do đối tượng nộp thuế tự khai trên tờ khai hàng hóa xuất, nhập khẩu, cơ quan Hải quan tiến hành kiểm tra, ra thông báo thu và các khỏan phải nộp gửi đối tượng nộp. Trong thông báo thu phải ghi rõ chi tiết từng khỏan nộp và theo đúng chương, lọai, khỏan, mục, tiểu mục của Mục lục ngân sách Nhà nước.
Căn cứ vào tính chất của từng khỏan nộp, cơ quan Hải quan xác định ngay tài khỏan nộp trên thông báo thu theo nguyên tắc: - Các khỏan thu ngay vào ngân sách, nộp vào tài khỏan 741 "Thu ngân sách Nhà nước". - Các khỏan có tính chất tạm giữ, nộp vào tài khỏan 921 "Tạm giữ chờ xử lý". b- Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước: Thực hiện theo mẫu giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước bằng tiền mặt hoặc chuyển khỏan được quy định tại Thông tư số 12/1999/TT-BTC ngày 01/02/1999 của Bộ Tài chính. c-
Căn cứ nội dung giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khỏan do người nộp thuế, ngân hàng hoặc cơ quan Hải quan chuyển đến, Kho bạc Nhà nước tổ chức thu và hạch tóan kế tóan, phân chia số thu ngân sách giữa các cấp ngân sách theo đúng tỷ lệ quy định và đúng mục lục ngân sách hiện hành. Trường hợp giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước ghi sai sót về mục lục ngân sách Nhà nước, cán bộ Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cán bộ Hải quan và đối tượng nộp thuế để điều chỉnh cho đúng và nộp kịp thời vào ngân sách Nhà nước. 2/ Thu, nộp thuế xuất, nhập khẩu tại điểm thu của Kho bạc Nhà nước -
Căn cứ vào số thuế phải nộp đã xác định trong thông báo thu của cơ quan Hải quan hoặc tờ khai hàng hóa xuất, nhập khẩu, đối tượng nộp lập 05 liên giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước bằng tiền mặt, ngân phiếu thanh tóan theo mẫu quy định tại Thông tư số 12/1999/TT-BTC ngày 01/02/1999 của Bộ Tài chính: liên 1 lưu cuống, 04 liên còn lại đem đến điểm thu của Kho bạc Nhà nước tại cửa khẩu để nộp tiền vào ngân sách Nhà nước. - Khi nhận được 04 liên giấy nộp tiền từ người nộp, kế tóan điểm thu của Kho bạc Nhà nước kiểm tra nội dung chứng từ và chuyển trực tiếp cho thủ qũy để thu tiền. - Thủ qũy kiểm tra lại các liên giấy nộp tiền, yêu cầu đối tượng nộp viết bảng kê phân lọai tiền, tiến hành thu tiền, vào sổ qũy, ký tên và đóng dấu "Đã thu tiền" vào các liên giấy nộp tiền; sau đó chuyển trả lại cho kế tóan. - Kế tóan ký tên, đóng dấu điểm thu vào các liên giấy nộp tiền và xử lý như sau: + Liên 3 gửi trả lại cho người nộp; Liên 4 gửi cơ quan Hải quan tại cửa khẩu; + Các liên còn lại (liên 2,5) lưu trong ngày tại điểm thu của Kho bạc Nhà nước làm căn cứ lập bảng kê giấy nộp tiền (Mẫu số 01/BK-TNS đính kèm). Bảng kê giấy nộp tiền được lập thành 3 bản: 01 bản lưu tại điểm thu; 01 bản giao Hải quan tại cửa khẩu; 01 bản kèm chứng từ thu lưu tại cơ quan Kho bạc Nhà nước. -
Căn cứ giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước đã được Kho bạc Nhà nước xác nhận, cơ quan Hải quan đối chiếu với tờ khai hải quan làm thủ tục để đối tượng nộp nhận hàng hoặc thanh tóan nợ thuế. - Cuối ngày, cán bộ Hải quan cửa khẩu và cán bộ điểm thu tiền của Kho bạc Nhà nước đối chiếu, ký xác nhận vào bảng kê.
Căn cứ vào bảng kê giấy nộp tiền đã được ký xác nhận kèm chứng từ thu cùng với số tiền thu được trong ngày chuyển về Kho bạc Nhà nước trực tiếp quản lý. Trình tự thủ tục nộp tiền tại trụ sở Kho bạc Nhà nước được thực hiện theo chế độ hiện hành. * Trường hợp tại các cửa khẩu hàng hóa xuất, nhập khẩu chủ yếu là hàng hóa phi mậu dịch, tiểu ngạch, hành lý..., quy trình thu như sau: -
Căn cứ vào thông báo thu hoặc tờ khai hàng hóa xuất, nhập khẩu, cán bộ Hải quan cửa khẩu lập 03 liên biên lai: liên 3 lưu cuống, 02 liên còn lại chuyển trực tiếp cho cán bộ điểm thu của Kho bạc Nhà nước. - Cán bộ điểm thu Kho bạc Nhà nước căn cứ vào biên lai, tiến hành thu tiền từ người nộp, vào sổ qũy; ký biên lai và trả lại cho cán bộ Hải quan. - Cán bộ Hải quan cửa khẩu gửi người nộp liên 2 biên lai thu thuế kèm tờ khai để làm thủ tục nhận hàng; liên 1 làm căn cứ lập bảng kê biên lai (mẫu số 02/BK-TNS đính kèm). - Cuối ngày, cán bộ Hải quan cửa khẩu và kế tóan điểm thu Kho bạc Nhà nước đối chiếu, ký xác nhận vào bảng kê biên lai. Bảng kê biên lai được lập 03 bản: 01 bản kèm các liên 1 biên lai lưu cơ quan Hải quan; 01 bản lưu tại điểm thu của Kho bạc Nhà nước; 01 bản làm căn cứ lập giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước. Hàng ngày hoặc chậm nhất sau 5 ngày, Hải quan cửa khẩu căn cứ vào bảng kê biên lai lập giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước; điểm thu Kho bạc Nhà nước chuyển giấy nộp tiền (kèm bảng kê biên lai) và số tiền đã thu được về Kho bạc Nhà nước trực tiếp quản lý. -
Căn cứ vào giấy nộp tiền cùng số tiền do điểm thu chuyển về, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục nhập tiền và hạch tóan thu ngân sách Nhà nước theo chế độ quy định hiện hành. 3/ Thu, nộp thuế xuất, nhập khẩu trực tiếp qua cơ quan Hải quan Cơ quan Hải quan sử dụng biên lai thu để trực tiếp thu thuế xuất, nhập khẩu từ đối tượng nộp. Định kỳ, căn cứ biên lai thu thuế, cơ quan Hải quan lập bảng kê chi tiết biên lai (Mẫu số 03/BK-TNS đính kèm) và viết giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước bằng tiền mặt để nộp tòan bộ số tiền đã thu vào Kho bạc Nhà nước theo chế độ quy định. Cơ quan Hải quan căn cứ tình hình về số thu; về khỏang cách và điều kiện giao thông từ cửa khẩu đến Kho bạc Nhà nước,... cụ thể từng địa bàn để thống nhất với Kho bạc Nhà nước quy định định kỳ nộp tiền thu thuế xuất, nhập khẩu vào Kho bạc Nhà nước (hàng ngày hoặc chậm nhất là 10 ngày). Cơ quan Hải quan chỉ nộp tiền thu thuế xuất, nhập khẩu đã thu được vào trụ sở Kho bạc Nhà nước, không nộp tiền tại các điểm thu ngòai trụ sở của Kho bạc Nhà nước. B/ NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA CƠ QUAN HẢI QUAN VÀ CƠ QUAN KHO BẠC NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC TẬP TRUNG, QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU 1/ Cơ quan Hải quan 1. 1/ Ra thông báo thu kịp thời và hướng dẫn đối tượng nộp lập giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước theo đúng quy định.
1. 2/ Trực tiếp tổ chức thu thuế xuất, nhập khẩu ở các cửa khẩu nơi chưa bố trí được điểm thu của Kho bạc Nhà nước và nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm 3 Mục A phần II của Thông tư này.
1. 3/ Tạo điều kiện trong việc bố trí địa điểm, phương tiện làm việc và phối hợp với Kho bạc Nhà nước đảm bảo an tòan tài sản, tiền bạc của nhà nước tại điểm thu của Kho bạc Nhà nước tại các cửa khẩu.
1. 4/ Định kỳ (tháng, qúy, năm), căn cứ vào chứng từ thu đã được Kho bạc Nhà nước ký và đóng dấu, cơ quan Hải quan lập báo cáo thu thuế xuất, nhập khẩu trên địa bàn, đối chiếu với Kho bạc Nhà nước, bảo đảm khớp đúng và chính xác. Trong quá trình đối chiếu, nếu có chênh lệch, hai bên phải tiến hành kiểm tra đối chiếu chứng từ thu nộp và kịp thời thông báo cho các đơn vị liên quan để thống nhất điều chỉnh số liệu sai sót theo chế độ kế tóan qui định.
1. 5/ Tổ chức công tác kế tóan, hạch tóan kế tóan và lập báo cáo kế tóan và quyết tóan theo chế độ quy định. 2/ Cơ quan Kho bạc Nhà nước 2. 1/ Phối hợp với cơ quan Hải quan trên địa bàn trong việc bố trí các điểm giao dịch trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước ở những nơi có đủ điều kiện như đã nêu tại điểm 1.3 khỏan 1 Mục B nói trên.
2. 2/ Tập trung đầy đủ và kịp thời tòan bộ các khỏan thu thuế xuất, nhập khẩu vào ngân sách Nhà nước (kể cả các khỏan thu do cơ quan Hải quan trực tiếp thu) và phân chia số thu cho từng cấp ngân sách theo đúng tỷ lệ quy định.
2. 3/ Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc TW thông báo mẫu dấu điểm giao dịch và chữ ký của của cán bộ Kho bạc Nhà nước tại điểm giao dịch cho cơ quan Hải quan trên địa bàn để đối chiếu và giao dịch.
2. 4/ Định kỳ (tháng, qúy, năm) Kho bạc Nhà nước phối hợp với cơ quan Hải quan tỉnh, thành phố đối chiếu số thu thuế xuất, nhập khẩu, đảm bảo khớp đúng số liệu giữa hai ngành (như đã nêu ở điểm 1.4 mục B phần II nói trên).
2. 5/ Tổ chức công tác kế tóan, hạch tóan kế tóan và lập báo cáo theo chế độ quy định. III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN 1/ Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. 2/ Cơ quan Hải quan, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh chế độ thu, nộp thuế xuất, nhập khẩu quy định tại Thông tư này. Nếu các đơn vị, cá nhân vi phạm, sẽ bị xử lý theo quy định của luật pháp hiện hành. Định kỳ (qúy, 6 tháng, năm), cơ quan Hải quan và cơ quan Kho bạc Nhà nước phối hợp đánh giá kết quả công tác thu, nộp thuế xuất, nhập khẩu và họat động của các điểm thu liên ngành trên địa bàn. 3/ Trường hợp các địa phương áp dụng công nghệ tin học để thực hiện công tác tập trung, quản lý các khỏan thu ngân sách Nhà nước, có các thủ tục và quy trình thu nộp riêng, phải lập đề án và báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan để xem xét và cho phép thực hiện. Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có khó khăn vướng mắc, cần kịp thời báo cáo về Bộ Tài chính (Kho bạc Nhà nước T.W), Tổng cục Hải quan để phối hợp giải quyết. PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN (Đã ký) Lê Mạnh Hùng