Căn cứ vào tính chất hàng hóa và cam kết giữa Nhà nước ta với tổ chức viện trợ quy định cho từng dự án, cơ quan tài chính đồng cấp xem xét để ghi kế họach thu, chi bằng nguồn vốn viện trợ vào kế họach Ngân sách hàng năm của đơn vị phù hợp với kế họach Nhà nước. 3/ Viện trợ là tiền tệ (tiền mặt, séc các lọai): a. Các khỏan viện trợ trực tiếp bằng ngọai tệ của nước ngòai (đài thọ cho hội nghị, hội thảo khoa học, tham quan, khảo sát trong và ngòai nước, chi chuyên gia, mua sắm vật tư thiết bị trong nước . . .) của tất cả các đơn vị đều phải chấp hành đúng quy định về quản lý ngọai tệ của Nhà nước tại Nghị định số 161/HĐBT ngày 18/10/1988 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư số 27 TC/KBNN ngày 27/5/1991 của Bộ Tài chính. b. Tòan bộ số ngọai tệ viện trợ của các đơn vị (không kể số ngọai do các tổ chức viện trợ chi trực tiếp cho chuyên gia nước ngòai để thực hiện dự án và chi trực tiếp cho cán bộ đi học tập, tham quan, khảo sát ở nước ngòai . . .) phải được bán cho qũy ngọai tệ tập trung của Nhà nước theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng công bố tại thời điểm bán, đơn vị chỉ dùng tiền Việt nam thu được để sử dụng trong nước. Trường hợp cần thiết phải sử dụng ngọai tệ, đơn vị phải báo cáo Bộ Tài chính để xem xét, nếu nhu cầu đó là chính đáng, đơn vị sẽ được mua lại ngọai tệ, nhưng không vượt quá số lượng ngọai tệ đã bán. c. Nguồn ngọai tệ viện trợ phát triển (ODA) để mua hàng hóa của nước ngòai theo cam kết với từng nước được quản lý như sau: - Ngọai tệ để mua hàng viện trợ dùng cho đầu tư XDCB được gọi là “phần cứng” thì Bộ Tài chính sẽ quản lý qua Ngân hàng đầu tư và phát triển để làm các thủ tục, cấp phát cho các đơn vị mua hàng ở nước ngòai theo quy định tại Thông tư số 17 TC/ĐT ngày 19/3/1991 của Bộ Tài chính. - Trường hợp ngọai tệ dùng để mua thiết bị bổ sung không thuộc công trình đầu tư XDCB và chi cho “phần mềm” dùng để hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo, hội thảo, tham quan, chuyên gia . . . do Bộ Tài chính (Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế) trực tiếp làm thủ tục cho các đơn vị. B. ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SẢN XUẤT KINH DOANH (BAO GỒM CẢ CÁC ĐƠN VỊ KINH TẾ NGÒAI QUỐC DOANH) 1/ Viện trợ là vật tư nguyên liệu và hàng tiêu dùng: Các đơn vị nhận viện trợ phải sử dụng nguồn vốn hợp pháp của mình (vốn tự có hoặc vay Ngân hàng) để thanh tóan tòan bộ trị giá ngọai tệ của số hàng viện trợ với Ngân sách Nhà nước theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng công bố tại thời điểm nhận hàng. Trường hợp đặc biệt, trị giá ngọai tệ của hàng viện trợ quy đổi ra tiền Việt nam theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng công bố cao hoặc thấp hơn so với giá cả của các mặt hàng tương đương trong nước (giá bán lẻ thị trường chấp nhận), thì đơn vị thanh tóan với mức giá của các mặt hàng tương đương trong nước sau khi có sự kiểm tra, xem xét và chấp thuận của cơ quan tài chính đồng cấp. Trường hợp hàng viện trợ không có giá nguyên tệ (hoặc không có giá cả của các mặt hàng tương đương trong nước) thì giá của hàng viện trợ phải do Hội đồng định giá (gồm đạị diện của Ủy ban vật giá Nhà nước và cơ quan tài chính đồng cấp, Bộ chủ quản và đơn vị nhận hàng quy định. Đơn vị thanh tóan với Ngân sách Nhà nước theo giá được Hội đồng định giá xác định bằng văn bản. 2/ Viện trợ là thiết bị, phụ tùng như thiết bi tòan bộ, thiết bị công nghệ lẻ, phụ tùng vật tư đi theo thiết bị tòan bộ . . . các đơn vị nhận viện trợ phải sử dụng nguồn vốn hợp pháp của mình (vốn tự có hoặc vay Ngân hàng) để thanh tóan tòan bộ trị giá ngọai tệ của số hàng viện trợ này với Ngân sách Nhà nước theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng công bố tại thời điểm nhận hàng. Trong thời gian 30 ngày kể từ khi nhận hàng viện trợ (hàng hóa các lọai), đơn vị phải thanh tóan tòan bộ giá trị của số hàng viện trợ với Ngân sách Nhà nước . - Các đơn vị thuộc Trung ương quản lý chuyển nộp tòan bộ giá trị hàng viện trợ đã nhận vào tài khỏan 01-383-017 của Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế tại Ngân hàng Ngọai thương Việt nam, Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế theo dõi để nộp ngay vào Ngân sách Nhà nước và để kiểm điểm kết quả chuyển giao viện trợ với tổ chức viện trợ tương ứng. - Các đơn vị thuộc địa phương quản lý, Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế có trách nhiệm chuyển tòan bộ hồ sơ về các khỏan viện trợ của đơn vị cho Sở Tài chính - Vật giá để Sở Tài chính - Vật giá đôn đốc thu nộp vào Ngân sách theo chế độ phân cấp quản lý Ngân sách hiện hành. Quá thời hạn trên (kể từ ngày thứ 31 trở đi), nếu đơn vị chưa nộp Ngân sách trị giá hàng viện trợ (hoặc nộp thiếu) thì Ngân hàng phục vụ đơn vị sẽ trích từ tài khỏan tiền gửi của đơn vị tại Ngân hàng để nộp đủ cho Ngân sách Nhà nước và nộp phạt theo đề nghị của cơ quan tài chính đồng cấp. Mức phạt nộp chậm mỗi ngày (tính từ ngày thứ 31 trở đi) là 0,5% (năm phần nghìn) trên số tiền chậm nộp và trừ vào phần lợi nhuận để lại của đơn vị. Tùy theo mục đích sử dụng của hàng viện trợ (thiết bị tòan bộ, thiết bị lẻ dùng trong XDCB; nguyên nhiên vật liệu dùng trong sản xuất kinh doanh . . .) các đơn vị nhận và sử dụng phải thực hiện nghiêm túc các chế độ quản lý hiện hành nhằm chống mất mát, hư hao tổn thất, sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả các nguồn hàng viện trợ này. 3/ Viện trợ là ngọai tệ (tiền mặt, séc các lọai): Tòan bộ số ngọai tệ viện trợ được nộp vào qũy ngọai tệ tập trung của Nhà nước. Khi cần sử dụng, các đơn vị được mua lại số ngọai tệ đã nộp bằng nguồn vốn hợp pháp của mình (vốn tự có hoặc vay Ngân hàng). 4/ Ngọai tệ viện trợ của các Chính phủ (viện trợ song phương) cho nước ta theo chương trình, dự án đã ký kết, Nhà nước sẽ thực hiện theo cơ chế bán cho các đơn vị kinh tế hoặc cho vay theo lãi suất ưu đãi. Bộ Tài chính sẽ có văn bản hướng dẫn riêng. III- THỦ TỤC THANH TÓAN QUA NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC A- ĐỐI TƯỢNG HÌNH THỨC VÀ NGUYÊN TẮC THANH TÓAN 1/ Đối tượng và hình thức thanh tóan: Tất cả các đơn vị nhận và sử dụng viện trợ quốc tế đều phải thực hiện thanh tóan qua Ngân sách Nhà nước. - Các đơn vị hành chính sự nghiệp (được Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí): khi nhận viện trợ sẽ áp dụng hình thức thanh tóan ghi thu, ghi chi qua Ngân sách các cấp. - Các đơn vị sản xuất kinh doanh (không được Ngân sách Nhà nước cấp kinh phí): khi nhận viện trợ đơn vị phải nộp trực tiếp giá trị nguồn viện trợ vào ngân sách các cấp theo mục lục Ngân sách Nhà nước hiện hành. 2/ Nguyên tắc thanh tóan: Thực hiện Nghị quyết số 186/HĐBT ngày 27/11/1989 của Hội đồng Bộ trưởng và Thông tư số 57 TC/NSNN ngày 12/12/1989 của Bộ Tài chính về phân cấp quản lý ngân sách thì nguồn viện trợ quốc tế cho các đơn vị thuộc ngân sách cấp nào quản lý được thanh tóan qua ngân sách cấp đó, cụ thể: - Các đơn vị thuộc Ngân sách Trung ương quản lý - thanh tóan tại Bộ Tài chính. - Các đơn vị thuộc Ngân sách Địa phương quản lý - thanh tóan tại các Sở Tài chính - Vật giá. B- CĂN CỨ THANH TÓAN: 1/ Các đơn vị được nhận và sử dụng viện trợ, khi có giấy báo hàng, ngọai tệ viện trợ, phải đến Bộ Tài chính (Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế) hoặc Ban đại diện quản lý và tiếp nhận viện trợ tại thành phố Hồ Chính Minh, đại diện tiếp nhận viện trợ tại Đà nẵng xác nhận là hàng, ngọai tệ viện trợ theo mẫu quy định của Bộ Tài chính (Công văn số 2058 TC/VT ngày 21/12//1990) để làm các thủ tục nhận hàng, rút tiền và thanh tóan với ngân sách các cấp. 2/ Giấy xác nhận hàng, ngọai tệ viện trợ do đơn vị kê khai là chứng từ thanh tóan qua ngân sách các cấp. Trường hợp hàng hóa nhận tại cảng, sân bay có phát sinh chênh lệch thừa, thiếu, mất mát, không đúng chủng lọai và giá cả . . . so với kê khai hoặc số tiền thực nhận tại Ngân hàng có thay đổi (tăng hoặc giảm) so với số tiền đã xác nhận thì: - Đơn vị nhận hàng phải gửi biên bản giám định đến Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế. - Đơn vị nhận tiền phải báo cáo kết quản nhận tiền với Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế. Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế xem xét, điều chỉnh giấy xác nhận theo kết quả hàng hóa (hoặc tiền) thực nhận cho đơn vị. Sau 15 ngày, kể từ khi nhận hàng, ngọai tệ viện trợ, đơn vị không có báo cáo kết quản nhận tiền hoặc biên bản giám định hàng hóa gửi đến Ban Quản lý tiếp nhận viện trợ quốc tế, thì giấy xác nhận do đơn vị kê khai theo vận đơn nói trên được coi là chứng từ hợp lệ để thanh tóan với ngân sách các cấp. IV- CHẾ ĐỘ BÁO CÁO VÀ KIỂM TRA: A- NỘI DUNG BÁO CÁO: Hàng qúy, hàng năm và khi kết thúc dự án các đơn vị nhận và sử dụng tiền, hàng viện trợ phải có báo cáo tổng hợp tình hình tiếp nhận, sử dụng và quyết tóan tiền, hàng viện trợ. Báo cáo phải thể hiện được các nội dung sau đây: a. Tình hình và kết quả tiếp nhận, phân phối tiền, hàng viện trợ. b. Tình hình sử dụng tiền, hàng viện trợ (báo cáo chi tiết nội dung sử dụng tiền, hàng viện trợ cho từng đối tượng và công việc cụ thể). c. Các khỏan chi phí tiếp nhận và quản lý tiền hàng viện trợ phát sinh từ khâu giao nhận đến nơi sử dụng. d. Các chi phí trong nước tham gia thực hiện dự án (nếu có). e. Những vấn đề khó khăn và những kiến nghị đối với cơ quan chủ quản, các cơ quan liên quan trong việc tiếp nhận, phân phối, sử dụng tiền hàng viện trợ. g. Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng tiền, hàng viện trợ. B- TRÌNH TỰ BÁO CÁO, DUYỆT QUYẾT TÓAN : a. Các đơn vị thuộc Trung ương quản lý (kể cả các Bộ làm chủ dự án nhận và phân phối hàng viện trợ cho các địa phương sử dụng) báo cáo tình hình sử dụng và quyết tóan tiền hàng viện trợ với Bộ Tài chính (Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế). Bộ Tài chính tham gia và phối hợp với các Bộ, ngành chủ quản trong việc duyệt quyết tóan tiền, hàng viện trợ của các đơn vị này. b. Các đơn vị thuộc địa phương quản lý báo cáo tình hình sử dụng và quyết tóan tiền, hàng viện trợ với Sở Tài chính. Sở Tài chính tham gia và phối hợp với các Sở chủ quản trong việc duyệt quyết tóan tiền hàng viện trợ của các đơn vị này, đồng thời tổng hợp tòan bộ tình hình sử dụng và quyết tóan tòan bộ tiền, hàng viện trợ thuộc địa phương gửi Bộ Tài chính (Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế). c. Bộ Tài chính (Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế) chịu trách nhiệm tổng hợp tòan bộ tình hình nhận, phân phối, sử dụng và thanh tóan với Ngân sách Nhà nước về các nguồn tiền, hàng viện trợ để báo cáo với Nhà nước, đồng thời báo cáo với các tổ chức viện trợ quốc tế. C- CHẾ ĐỘ KIỂM TRA: Để nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn tiền, hàng viện trợ quốc tế; hướng dẫn, giúp đỡ các đơn vị giải quyết các tranh chấp quốc tế phát sinh trong quá trình thực hiện các dự án viện trợ; đồng thời phát hiện và kiến nghị biện pháp xử lý các vi phạm trong việc quản lý, phân phối và sử dụng tiền hàng viện trợ các cơ quan chủ quản và tài chính các cấp phải thường xuyên kiểm tra đối với các đơn vị nhận và sử dụng viện trợ đúng mục đích, đúng cam kết có hiệu quả. Nội dung kiểm tra: - Kiểm tra việc phân phối và sử dụng tiền, hàng viện trợ đúng mục đích, đúng cam kết và có hiệu quả. - Kiểm tra việc chấp hành các chế độ quản lý hiện hành của Nhà nước đối với tiền, hàng viện trợ. - Kiểm tra chi phí quản lý tiền, hàng viện trợ. - Kiểm tra công tác hạch tóan kế tóan, thống kê và việc chấp hành chế độ báo cáo thống kê, kế tóan định kỳ của Nhà nước. V- ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH 1/ Các đơn vị nhận sử dụng tiền và hàng viện trợ quốc tế có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh những quy định tại Thông tư này. 2/ Đề nghị UBKHNN, NHNN, Bộ Nội vụ, Tổng cục Hải quan và các cơ quan hữu quan khác phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính (Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế, Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) trong việc thực hiện quản lý tài chính Nhà nước đối với các nguồn tiền, hàng viện trợ quốc tế. 3/ Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày ký. Những quy định về chế độ quản lý tài chính trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Trong quá trình thực hiện nếu có gì khó khăn vướng mắc, đề nghị các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở phản ánh về Bộ Tài chính (Ban Quản lý và tiếp nhận viện trợ quốc tế) để nghiên cứu, bổ sung và sửa đổi./.
- VP HĐBT (V6 +V7) (để báo cáo)
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các đòan thể TW
- UBND các tỉnh, thành phố đặc khu trực thuộc Trung ương
- Các Sở TC
- Các Vụ Tài vụ, T.C.Thuế thuộc Bộ Tài chính
- Lưu: VP, Ban QL và TNVT. QT KT BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Phạm Văn Trọng