1. Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đòan được tính trên cơ sở qũy tiền lương của doanh nghiệp theo các chế độ hiện hành của Nhà nước. Chi phí cho tổ chức Đảng, Đòan thể được lấy từ nguồn kinh phí của tổ chức này, nếu nguồn kinh phí của tổ chức Đảng, Đòan thể không đủ để chi thì phần chênh lệch thiếu được hạch tóan vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
2. Chi phí họat động của các tổ chức Đảng, Đòan thể tại doanh nghiệp được thực hiện như sau: Lương và phụ cấp có tính chất lương của cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm của các tổ chức Đảng, Đòan thể được hạch tóan vào chi phí và giá thành sản phẩm, dịch vụ theo quy định tại Thông tri số 03 TT/TC-TW ngày 16/6/1993 của Ban Tổ chứcTrung ương hướng dẫn thực hiện quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của cánbộ công nhân viên chức cơ quan Đảng, Đòan thể. Ngòai phần kinh phí của các tổ chức Đảng, Đòan thể tại doanh nghiệp được chi từ nguồn quy định tại công văn số 517 TC/TCQT ngày 30/10/1992 của Ban Tài chính quản trị Trung ương hướng dẫn thi hành Nghị quyết của Bộ Chính trị về chế độ đảng phí; Thông tư liên Bộ số 103/TTLB ngày 2/12/1994 của Bộ Tài chính - Tổng Liên đòan Lao động Việt Nam hướng dẫn trích nộp kinh phí công đòan; hội phí, đòan phí của các tổ chức đòan thể khác nếu thiếu thì doanh nghiệp được hạch tóan phần chênh lệch thiếu vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp để bổ sung kinh phí cho các tổ chức trên.
3. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày Nghị định số 27/1999/NĐ-CP ngày 20/4/1999 của Chính phủ có hiệu lực. Các quy định khác vẫn thực hiện theo quy định tại Thông tư số 63/1999/TT-BTC ngày 7/6/1999 của Bộ Tài chính./.