1. Các khỏan nợ thuế nông nghiệp, nợ hợp đồng kinh tế 2 chiều về lương thực giữa trung ương và các địa phương phải được đối chiếu, xác nhận theo đúng các quy định của Nhà nước trong từng thời kỳ. Nếu miễn giảm phải được cấp có thẩm quyền quyết định.
2. Trên cơ sở xác định được nợ bằng hiện vật đều phải qui thành nợ bằng tiền theo giá thỏa thuận ở thời điểm thanh tóan (tháng 6/1989) và có tính đến sự biến động sức mua của đồng tiền.
3. Việc qui đổi, thanh tóan vừa bảo đảm yêu cầu sòng phẳng, vừa tiện lợi và nhanh chóng. II. PHƯƠNG PHÁP THANH TÓAN CỤ THỂ
1. Đối với nợ thuế nông nghiệp : Trước hết phải kiểm tra xác định số nợ thuế nông nghiệp chưa thu được từ năm 1986 đến 1988 theo đúng chính sách hiện hành. Tỷ lệ điều tiết nông nghiệp giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương tuy mỗi tỉnh, mỗi năm có khác nhau; song lần này, để đơn giản việc thanh tóan, các địa phương chỉ nộp cho Trung ương 1 tỷ lệ thống nhất là 50% số nợ thuế khê đọng. Giá trị thóc thuế phải nộp cho Trung ương được tính như sau : Giá trị thóc thuế Lượng thóc thuế Giá thỏa thuận =x 50% x nộp cho Trung ương khê đọng (tháng 6/1988)
2. Đối với thanh tóan nợ thóc theo hợp đồng kinh tế 2 chiều. Những tình, thành phố đã được đòan 315 ... của Hội đồng Bộ trưởng kiểm tra công nợ đến vụ chiêm xuân 1987 thì nay vẫn lấy số liệu đó làm căn cứ xác định thanh tóan. Các trường hợp xin miền giảm phải được cấp có thẩm quyền quyết định. Đối với các tỉnh, thành phố chưa được kiểm tra đối chiếu, hoặc các công nợ mới phát sinh từ vụ mùa năm 1987 đến nay đều phải được kiểm tra và xác nhận nợ. Nội dung xác nhận nợ 2 chiều như sau : - Xác định số phân bón, vật tư hàng hóa trung ương đã giao cho địa phương từng năm theo các mức giá là bao nhiêu. - Xác định số thóc 2 chiều phải thu của từng năm tương ứng với từng mức giá vật tư, phân bón. - Xác định số thóc mà ngành lương thực đã thực thu của từng năm. Trên cơ sở đó xác định lượng thóc nợ theo HĐKT 2 chiều của từng năm còn phải thu. Các địa phương thanh tóan cho Trung ương phần chênh lệch giữa giá chỉ đạo ổn định với giá thỏa thuận ở năm phát sinh công nợ của số thóc nợ 2 chiều nói trên, có tính đến biến động sức mua của đồng tiền, cụ thể là : - Xác định số chênh lệch giữa giá 2 chiều và giá thỏa thuận ở thời điểm (năm) phát sinh công nợ. -Xác định tỷ lệ phải nộp Trung ương trên cơ sở giá thỏa thuận ở thời điểm (năm) phát sinh công nợ. -Xác định số tiền chênh lệch phải nộp Trung ương tính trên cơ sở giá thỏa thuận ở thời điểm thanh tóan (6/1989). Số tiền chênh lệch Lượng thócGiá thỏa thuận tỷ lệ phải nộp TW về nợ = nợ x(tháng 6/1989)x phải nộp thóc 2 chiều Cách tính thanh tóan như trên đối với từng trường hợp phân bón, vật tư hàng hóa đã giao và đã thanh tóan trả tiền theo giá chỉ đạo ở thời điểm (năm) phát sinh nợ mà chưa nộp thóc cho Trung ương; còn đối với trường hợp chưa thanh tóan trả tiền phân bón, vật tư hàng hóa đã giao thì tính thanh tóan với Trung ương bằng tiền số thóc nợ HĐKT 2 chiều theo giá thỏa thuận ở thời điểm thanh tóan kỳ này (6/1989). Theo nguyên tắc trên, các Đòan làm việc, bàn bạc với các địa phương để việc thanh tóan vừa bảo đảm yêu cầu sòng phẳng, thỏa đáng, vừa bảo đảm thời gian quy định của HĐBT. Trong quá trình vận dụng, nếu có gì vướng mắc, các Đòan hoặc Tổ công tác thanh tóan cần phản ánh ngày cho Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Tài chính biết để nghiên cứu giải quyết ./ . BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH (Đã ký) Hòang Quy