a) Khi Ngân hàng Ngọai thương Việt nam nhận được bộ chứng từ đòi tiền của người bán hàng nước ngòai, sau khi kiểm tra đối chiếu nếu thấy hợp lệ thì Ngân hàng Ngọai thương ghi Nơ qúy ngọai tệ tập trung của Nhà nước và thông báo cho Bộ Tài chính biết; đồng gửi giấy báo "Nợ"đó bằng ngọai tệ cho tổ chức nhập khẩu để đơn vị này làm tiếp các thủ tục phục vụ cho việc thanh tóan đối ngọai và đối nội. Kèm theo bộ chứng từ đòi tiền bán hàng gửi cho chủ hàng trong nước nhận hàng nhập khẩu, tổ chức nhập khẩu phải lập bảng phân tích rõ tiền bán hàng, thặng số ngọai thương, số thuế nhập khẩu (nếu có) để Ngân hàng hạch tóan cụ thể từng khỏan thu bằng tiền Việt nam vào tài khỏan của Bộ Tài chính (TK theo dõi số thu hàng nhập khẩu) và tài khỏan của tổ chức nhập khẩu.
b) Chủ hàng trong nước (kể cả tổ chức vừa làm nhiệm vụ nhập khẩu trực tiếp, vừa làm nhiệm vụ cung ứng trong nước) khi nhận được bộ chứng từ đòi tiền bán hàng của tổ chức nhập khẩu do Ngân hàng phục vụ mình chuyển đến, nếu kiểm tra thấy hợp lệ thì dùng vốn tự có (nếu thiếu thì vay Ngân hàng) để chuyển Việt nam thanh tóan cho tổ chức nhập khẩu. Trường hợp đột xuất, chủ hàng trong nước phải nhận hàng nhập khẩu ngòai hợp đồng ký với tổ chức nhập khẩu thì chủ hàng trong nước phải báo cáo Bộ Tài chính để có biện pháp xử lý thích hợp. Trong thời hạng 15 ngày kể từ ngày ký vào lệnh giao hàng chủ hàng trong nước phải thanh tóan xong tòan bộ tiền hàng cho tổ chức nhập khẩu. Nếu quá thời hạn nói trên mà chủ hàng trong nước không trả tiền mua hàng cho tổ chức nhập khẩu thì cứ mỗi ngày quá hạn đơn vị phải chịu phạt theo mức lãi suât tiền vay do Ngân hàng quy định tính trên gía trị của tiền hàng phải trả. Nếu quá 30 ngày kể từ ngày chủ hàng trong nước ký vào lệnh giao hàng mà vẫn không trả tiền mua hàng thì tổ chức nhập khẩu phải báo cáo Bộ Tài chính để trong trường hợp cần thiết có thể ra lệnh thu bắt buộc (kể cả tiền phạt chậm nộp tính theo lãi suất tiền vay Ngân hàng) đối với chủ hàng trong nước; đồng thời tổ chức nhập khẩu có thể kiến nghị Nhà nước cho phép có quyền đình chỉ việc giao hàng tiếp cho chủ hàng trong nước đó và được phép bán số hàng (đáng ra phải giao tiếp) cho các đơn vị khác (theo gía mềm) có khả năng thanh tóan đúng kỳ hạn và nộp ngay cho Ngân sách Nhà nước.
c) Khi Ngân hàng Ngọai thương nhận được tiền hàng nhập khẩu do chủ hàng trong nước trả cho tổ chức nhập khẩu thì Ngân hàng Ngọai thương ghi thu cho Ngân sách Nhà nước số tiền hàng sau khi đã trừ thặng số ngọai thương và thuế nhập khẩu (nếu mặt hàng có chịu thuế); đồng thời ghi thu vào tài khỏan của tổ chức nhập khẩu tiền thuế nhập khẩu (nếu có) và thặng số ngọai thương. Tổ chức nhập khẩu được tam giữ lại thặng số ngọai thương để bù đắp chi phí phát sinh trong quá trình nhập khẩu và giao nhận hàng nhập khẩu. Bộ Tài chính và Bộ chủ quản sẽ quy định chế độ sử dụng thặng số này trong kế họach tài chính hàng năm của đơn vị. II. THANH TÓAN VÀ THU NỘP NGÂN SÁCH TIỀN VẬT TƯ, NHẬP KHẨU TỪ KHU VỰC II THEO CHỈ TIÊU KẾ HỌACH NHÀ NƯỚC - Trường hợp các chủ hàng trong nước được phân chỉ tiêu nhập vật tư nhập khẩu từ khu vực II bằng nguồn vốn của qũy ngọai tệ tập trung của Nhà nước hoặc vốn ngọai tệ Nhà nước vay của nước ngòai thì khi tổ chức nhập khẩu mở LC, chủ hàng trong nước phải dùng vốn bằng tiền Việt nam để mua số ngọai tệ của Nhà nước theo tỷ giá Ngân hàng Nhà nước công bố, Ngân hàn Ngọai thương sẽ hạch tóan số tiền Việt nam mà các đơn vị mua ngọai tệ vào tài khỏan 720 "Tiền gửi bằng đồng Việt nam "của Bộ Tài chính mở tại Ngân hàng Ngọai thường Trung wg. Quan hệ giưã tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước là quan hệ nhập khẩu ủy thác nên tô chức nhập khẩu sẽ thu thặng số ngọai thương đối với chủ hàng trong nước. Nếu mặt hàng nhập khẩu nằm trong diện phải nộp thuế nhập khẩu thì khi hàng về tổ chức nhập khẩu sẽ báo trước cho chủ hàng trong nước số tiền thuế phải nộp để chủ hàng trong nước chuyển tiền nộp thuế nhập khẩu. - Trường hợp chủ hàng trong nước được phân chỉ tiêu nhận vật tư do các tổ chức nhập khẩu vay mua chịu hộ cho Nhà nước: + Nếu chứng từ báo nợ của nước ngòai gửi về, thì sau khi nhận được báo nợ của Ngân hàng Ngọai thương về sô tiền đã vay của tổ chức hoặc thương nhân nước ngòai, tổ chức nhập khẩu thông báo ngay cho chủ hàng trong nước để chuyển tiền Việt nam mua lại số ngọai tệ ghi trên báo nợ đó theo tỷ giá Ngân hàng Nhà nước công bố. Trong thời hạn 15 ngày , (căn cứ vào dấu Bưu điện) kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức nhập khẩu, chủ hàng trong nước phải thanh tóan xong tiền mua lại số ngọai tệ trên. Ngân hàng Ngọai thương hạch tóan số tiền mà chủ hàng trong nước đã mua lại ngọai tệ vào tài khỏan 720 "Tiền gửi bằng đồng Việt nam" của Bộ Tài chính gửi tại Ngân hàng Ngọai thương Trung ương. Nếu quá thời hạn trên mà chủ hàng trong nước không chuyển tiền mua ngọai tệ thì tổ chức nhập khẩu báo cho Bộ Tài chính biết; đồng thời tổ chức nhập khẩu có thể kiến nghị Nhà nước cho phép được bán số hàng trên cho đơn vị khác (theo giá mềm) có khả năng thanh tóan đúng kỳ hạn và nộp ngay cho ngân sách Nhà nước. + Trong trường hợp hàng về trước chứng từ báo nợ của nước ngòai thì thủ tục thanh tóan hàng nhập giữa tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước cũng như thủ tục nộp ngân sách Nhà nước tiền bán hàng nhập khẩu được thực hiện như đối với hàng nhập khẩu từ khu vực I đã nêu ở trên. Quan hệ giữa tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước là quan hệ nhập khẩu ủy thác nên tổ chức nhập khẩu sẽ thu phí ngọai thương đối với chủ hàng trong nước. Nếu mặt hàng nhập khẩu nằm trong diện phải nộp thuế nhập khẩu thì khi hàng về tổ chức nhập khẩu sẽ báo trước cho chủ hàng trong nước số tiền thuế phải nộp để chủ hàng trong nước chuyển tiền nộp thuế nhập khẩu. - Trường hợp chủ hàng trong nước được phân chỉ tiêu nhận vật tư nhập khẩu do tổ chứcnhập khẩu dùng vốn viện trợ vay nợ bằng hàng hóa của Nhà nước, thì thủ tục thanh tóan hàng nhập giưã tổ chức nhập khẩu và chủ hàng trong nước cũng như thủ tục nộp ngân sách Nhà nươc, tiền bán hàng nhập khẩu được thực hiện như đối với hàng nhập khẩu từ khu vực I đã nêu ở trên. III. THANH TÓAN HÀNG NHẬP VỀ GIAO CHO BỘ NGÀNH HÀNG THU MUA, SẢN XUẤT , GIA CÔNG HÀNG NHẬP KHẨU Đối với Bộ, ngành hàng được nhận vật tư để thu mua hàng xuất khẩu, kể cả hợp tác, gia công thì được nhận hàng tính theo nguyên tệ như thông tư số 02 ngày 03/2/1989 của Liên Bộ UBKHNN-KTĐN.Đơn vị nhận hàng chỉ thanh tóan với tổ chức nhập khẩu về thặng số ngọai thương và thuế nhập khẩu (nếu có). IV. ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH 1- Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/1989. Để bảo đảm việc hạch tóan và thanh tóan từ 01/1/1989 đến 3/1989 giữa Ngân sách, đơn vị, Ngân hàng đỡ phức tạp, Bộ Tài chính và Ngân hàng cùng các tổ chức XNK sẽ tổ chức quyết tóan tay ba theo nguyên tắc sau:
a) Đối với số hàng nhập khẩu mà các tổ chức nhập khẩu đã nhận nợ với ngân hàng trước ngày 31/12/1988, việc trả nợ vay Ngân hàng Ngọai thương cũng như việc thu nộp ngân sách Nhà nước vẫn được thực hiện theo cơ chế cũ (không phân biệt hàng về 1988 hay 1989).
b) Đối với số hàng nhập khẩu mà các tổ chức nhập khẩu đã nhận nợ với Ngân hàng ngọai thương từ 01/1/1989 đến 15/3/1989, việc thanh tóan thu nộp ngân sách Nhà nước được thực hiện theo cơ chế mới quy định trong thông tư này. Những lô hàng nhập khẩu về từ 01/1/1989 đến nay mà các tổ chức nhập khẩu đã nhận nợ với Ngân hàng và đã trả được nợ Ngân hàng thì Ngân hàng phải thóai lại tòan bộ số nợ đã thu cho đơn vị để đơn vị nộp Ngân sách Trung ương. Đối với những khỏan nợ mà Tổng Công ty chưa trả được Ngân hàng thì Tổng Công ty có trách nhiệm nộp trực tiếp cho Ngân sách và được xóa nợ với Ngân hàng. 2- Đối với các Tổng Công ty xuất khẩu thực hiện chỉ tiêu xuất khẩu của Trung ương năm 1988 mà chưa được ngân sách trợ cấp xuất khẩu nên còn nợ tiền vay thu mua hàng xuất khẩu của Ngân hàng thì khi có nguồn Bộ Tài chính sẽ giải quyết cấp bù để Tổng Công ty trả nợ tiền vay Ngân hàng. 3- Đối với các Tổng công ty xuất khẩu thực hiện chỉ tiêu xuất khẩu của Trung ương năm 1989 và được cân đối vật tư trong 410 triệu Rúp, có vay thu mua hàng xuất khẩu và được Ngân hàng trả tiền Việt nam đổi giá cho kim ngạch đã xuất khẩu trong 2 tháng 15 ngày đầu năm 1989, các Tổng Công ty xuất khẩu phải lấy tiền bán vật tư do Nhà nước cân đối để trả nợ phần vốn đã vay của Ngân hàng và phần tiền Việt nam đổi giá kim ngạch xuất khẩu qúy I/1989 mà Ngân hàng đã trả cho tổ chức xuất khẩu. 4- Ngân hàng ngọai thương Việt nam sẽ mở cho Bộ Tài chính tài khỏan theo dõi riêng số thu nhập bằng tiền Việt nam và định kỳ 1 tuần có trách nhiệm chuyển nộp số thu hàng nhậ vào ngân sách Trung ương (lọai 14 khỏan 1 hạng 4 mục 4 theo mục lục ngân sách Nhà nước hiện hành). 5- Việc thanh tóan và hạch tóan các khỏan có liên quan đến đồng RCN, vật tư trả quyền sử dụng ngọai tệ, vật tư bán thu Đô la, Bộ Tài chính sẽ có thông tư hướng dẫn riêng. Trong quá trình thực hiện, nếu có gì khó khăn, vướng mắc đề nghị các Bộ, các ngành, các địa phương và các Tổng Công ty xuất nhập khẩu phản ánh ngay cho Bộ Tài chính biết để nghiên cứu xử lý thích hợp./.
- -VP HĐBT -VP Trung ương Đảng -Các Bộ, TC, UBNN và các cơ quan Đảng, đòan thể ở Trung ương -Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương -Sở TC các tỉnh, thành phố, đặc khu -NHNN các tỉnh, thành phố, đặc khu.
- Các Tổng Công ty, Công ty XNK.TW
- Các Cục, Vụ, Viện, Công ty,các trường thuộc Bộ
- Lưu;VP (A + B) , Vụ TCĐN và QLNT. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH (Đã ký) Hòang Quy