a) Các khỏan thu nhập bằng tiền lương, phụ cấp lương, trợ cấp đông con, trợ cấp khó khăn thường xuyên, - không kể trợ cấp thương tật, tiền thưởng tăng năng suất... của người là cán bộ công nhân viên chức.
b) Các khỏan tiền trợ cấp hưu trí, trợ cấp mất sức, của người là cán bộ công nhân viên chức về hưu, mất sức.
c) Các khỏan trợ cấp xã hội khác; hoc bổng, sinh họat phí của học sinh học nghề, phổ thông, chuyên nghiệp; trợ cấp tuất của con mồ côi...
d) Tiền lương, tiền công của người là xã viên hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, tiền công ăn chia quy từ hiện vật ra, tiền của xã viên hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tín dụng (kể cả thu nhập trên ruộng đất 5%), thu nhập bằng buôn bán của tiểu thương...
đ) Các khỏan thu nhập khác còn lại của tất cả các người trong gia đình. 2/ Các tỉnh bình quân thu nhập theo đầu người trong gia đình:
a) Cộng tất cả các khỏan thu nhập của những người có thu nhập trong gia đình.
b) Trừ đi số tiền ăn tiêu cần thiết cho bản thân người cán bộ công nhân viên chức tại chức, nghỉ hưu, mất sức, quân nhân tại ngũ là sĩ quan (đến cấp thượng úy) là 35đ/tháng/ người.
c) Số tiền còn lại đem chia đều cho số người còn lại trong gia đình; thương của số chia là mức thu nhập bình quân tính theo đầu người trong gia đình. 3/ Số người trong gia đình được tính để chia bình quân thu nhập theo đầu người bao gồm những người trong gia đình mà người cán bộ côg nhân viên chức là chủ gia đình có trách nhiệm chủ yếu phải đóng góp để nuôi dưỡng như vợ hay chồng, con cái, cha mẹ đẻ, cha mẹ vợ hay chồng... + Những người trong gia đình sau đây không tính vào số người được lấy làm căn cứ để tính bình quân thu nhập theo đầu người trong gia đình: * Những người là cán bộ công nhân viên chức đã được trừ tiền ăn tiêu cần thiết cho bản thân là 35đ/tháng/người. * Những người là quân nhân tại ngũ, là thanh niên xung phong tại ngũ đang hưởng theo chế độ cung cấp trong quân đội, đội thanh niên xung phong tập trung. * Những người là sĩ quan quân đội nhân dân từ cấp thượng úy trở xuống (kể cả công an vũ trang), đã được trừ cho bản thân mỗi người là 35đ/tháng/người. IV- XÁC ĐỊNH SỐ SUẤT ĐƯỢC TRỢ CẤP VÀ VIỆC KÊ KHAI, XÉT DUYỆT TRỢ CẤP 1/ Xác định số suất được trợ cấp.
a) Nếu gia đình thuộc diện trợ cấp có một người là cán bộ công nhân, viên chức thì được trợ cấp một suất (10đ).
b) Nếu gia đình thuộc diện trợ cấp có hai người là cán bộ côgn nhân, viên chức trở lên thì: - Nếu được trợ cấp 1 suất rồi, mà mức bình quân thu nhập mới vẫn thấp hơn mức 22đ - 20đ - 18đ (tùy khu vực) thì được trợ cấp thêm một suất nữa là hai suất. - Nếu được trợ cấp 2 suất rồi, mà gia đình lại có 3 người là cán bộ, công nhân, viên chức, mức bình quân thu nhập mới vẫn thấp hơn mức 22đ-20đ-18đ (tùy khu vực) thì được trợ cấp thêm một suất nữa là 3 suất...
c) Ngược lại nếu sau mỗi lần trợ cấp một suất 10đ mà bình quân thu nhập mới của gia đình đã bằng hoặc cao hơn chút ít mức 22đ-20đ-18đ (tùy khu vực) thì được trợ cấp thêm một suất nữa là 3 suất... 2/ Kê khai:
a) Một gia đình thuộc diện được trợ cấp có nhiều người là cán bộ, công nhân, viên chức, được hưởng hai suất trợ cấp trở lên, gia đình giao cho một người lĩnh cả mấy suất ở một nơi (nơi mà người được gia đình ủy nhiệm đang làm việc). Cơ quan, xí nghiệp quản lý người được gia đình ủy nhiệm xét và cấp cho người đó.
b) Người đứng kê khai xin trợ cấp: - Nếu gia đình chỉ có một người là cán bộ công nhân viên chức tại chức thì người cán bộ công nhân viên chức đó đứng tên kê khai để xin trợ cấp. - Nếu gia đình có nhiều người là cán bộ công nhân viên chức tại chức thì người cán bộ công nhân viên chức tại chức có mức lương chức vụ hay cấp bậc cao nhất cùng sống trong hộ gia đình đó đứng tên kê khai xin trợ cấp; nếu người có mức lương cao nhất trong gia đình đi công tác xa (đi công tác ở nước ngòai hay ở tỉnh khác xa gia đình) thì người có mức lương cao thứ hai cùng ở trong hộ gia đình đó đứng tên kê khai xin trợ cấp; nếu gia đình có nhiều người là cán bộ công nhân viên chức tại chức nhưng đều ở xa gia đình thì người có mức lương cao nhất ở gần gia đình đứng tên kê khai. - Nếu gia đình có người là cán bộ công nhân, viên chức tại chức, có người là sĩ quan quân đội tại ngũ (kể cả công an vũ trang) mà từ cấp thượng úy trở xuống, thì người cán bộ công nhân viên chức tại chức đứng tên kê khai. - Mỗi qúy một lần, từ ngày 20 đến ngày 30 của tháng cuối qúy trước, người cán bộ công nhân viên chức tại chức đứng tên kê khai xin trợ cấp phải kê khai đầy đủ và rõ ràng số thu nhập của gia đình và số người trong gia đình theo đúng bảng mẫu kê khai đình kèm thông tư này để gửi Ban Chấp hành công đòan bộ phận và Ban Chấp hành cơ sở nơi mình đang công tác, sản xuất xét và đề nghị với thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp ra quyết định trợ cấp. 3/ Cách xét và quyết định trợ cấp, mức trợ cấp:
a) Đầu mỗi qúy, từ ngày 1 đến ngày 10 của tháng đầu qúy, căn cứ vào tờ khai của người xin trợ cấp, nhận xét và đề nghị của Ban Chấp hành công đòan cơ sở và các quy định trong thông tư, Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp xét quyết định số suất trợ cấp (mỗi suất trợ cấp là 10đ/tháng) cho cán bộ công nhân viên chức mà gia đình có mức thu nhập bình quân thấp cần được trợ cấp.
b) Trước khi ký quyết định trợ cấp trong vòng 10 ngày, thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp phải niêm yết danh sách những người được trợ cấp và số suất trợ cấp cho mỗi gia đình để cán bộ công nhân viên chức trong cơ quan, xí nghiệp tham gia ý kiến.
c) Trường hợp có người được xét trợ cấp mà cán bộ công nhân viên chức trong xí nghiệp, cơ quan có nhiều ý kiến thắc mắc thì có thể tạm hõan chưa ra quyết định trợ cấp. Sau đó, công đòan cơ sở phải tổ chức xác minh, kết luận và thông báo lại cho quần chúng biết kết quả. Nếu người cán bộ công nhân viên chức đó kê khai đúng thì ra quyết định trợ cấp và cho truy lĩnh số tiền được trợ cấp của những tháng bị tạm ngừng. Nếu kê khai sai, không đúng diện được trợ cấp thì đình chỉ không trợ cấp.
d) Những cán bộ công nhân viên chức đã kê khai đầy đủ và rõ ràng các khỏan thu nhập của gia đình nhưng thủ trưởng và công đòan cơ sở xét duyệt chậm thì cũng được truy lĩnh số tiền trợ cấp của những tháng chưa được lĩnh.
đ) Những cán bộ công nhân viên chức chưa kê khai đầy đủ và rõ ràng các khỏan thu nhập của gia đình thì chỉ lĩnh trợ cấp từ khi có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, không được truy lĩnh.
e) Những cán bộ công nhân viên chức đã lĩnh trợ cấp nhưng quần chúng phát hiện và đã được xác minh là không thuộc diện được trợ cấp thì người đó phải hòan lại số tiền đã lĩnh.
g) Mức trợ cấp 10đ/tháng và số suất được trợ cấp cho mỗi gia đình cán bộ công nhân viên chức do cơ quan, xí nghiệp quản lý người cán bộ công nhân viên chức đứng tên kê khai và xin trợ cấp cấp phát cho cán bộ công nhân viên chức đó cùng với kỳ lương đợt 1 hàng tháng. V- TRỢ CẤP KHÓ KHĂN ĐỘT XUẤT Ngòai khỏan trợ cấp khó khăn thường xuyên hàng tháng trên đây, những cán bộ công nhân viên chức thuộc đối tượng trợ cấp khó khăn quy định ở điều 1 trong Thông tư này nếu gặp khó khăn đột xuất: do bị bão, lụt, cháy nhà... mà bị hư hại, mất mát tài sản hoặc bố, mẹ, vợ hoặc chồng, con bị ốm đau lâu ngày, bị chết, nếu có mức bình quân thu nhập tính theo đầu người trong gia đình dưới 27 đồng một tháng đối với những cán bộ công nhân viên chức nói ở điểm 2 mục II, dưới 23 đồng đối với những cán bộ công nhân viên chức nói ở điểm 3 mục II thì được xét trợ cấp khó khăn đột xuất một lần/một năm từ 50 đồng đến 100 đồng cho mỗi gia đình, tùy theo mức độ thiệt hại. Cách kê khai, xét duyệt, quyết định trợ cấp cũng theo như đã quy định ở trên (điều IV, điểm 2 và 3). VI- KINH PHÍ TRỢ CẤP 1/ Kinh phí trợ cấp khó khăn thường xuyên hàng tháng và trợ cấp khó khăn đột xuất trên đây do qũy xã hội thuộc ngân sách Nhà nước đài thọ, thay cho khỏan kinh phí trợ cấp khó khăn được dự trù theo bình quân 5đ/người/năm trước đây. 2/ Cơ sở để dự trù khỏan kinh phí này là: - Trong qúy IV/1979, cơ quan, xí nghiệp được dự trù theo số suất (mỗi suất trợ cấp 10đ) được xét duyệt và quyết tóan theo số cán bộ công nhân viên chức và số suất trợ cấp có quyết định được trợ cấp. - Từ năm 1980 trở đi, cho đến khi cải tiến tiền lương, cơ quan, xí nghiệp được dự trù theo số cán bộ công nhân viên chức và số suất trợ cấp, thực cấp của qúy IV/1979 và quyết tóan theo số thực cấp của cùng qúy. - Cơ quan, xí nghiệp, các ngành, các địa phương không được tự ý mở rộng tiêu chuẩn, đối tượng xét cấp và phải quản lý chặt chẽ khỏan trợ cấp này như quản lý qũy tiền lương của cơ quan, xí nghiệp... - Sau mỗi qúy, từ 15-25 tháng đầu qúy sau, cơ quan, xí nghiệp có trách nhiệm báo cáo thống kê tình hình thực hiện trợ cấp khó khăn trên đây (theo mẫu đính kèm gửi cho Liên hiệp công đòan và Tổng công đòan Việt Nam). VII- ĐIỀU KHỎAN CHUNG 1/ Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/1979. Nơi nào được phổ biến chậm cũng được thi hành kể từ ngày kể trên. 2/ Thông tư này thay thế cho các Thông tư quy định chế độ trợ cấp khó khăn thường xuyên và đột xuất được dự trù theo tiêu chuẩn bình quân 5 đồng/người/năm. Nhận được Thông tư này, đề nghị các Bộ, các ngành ở Trung ương, các Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phối hợp với Công đòan cùng cấp phổ biến cho tòan thể cán bộ công nhân viên chức và tổ chức việc xét, duyệt và cấp phát tiền trợ cấp được kịp thời, chính xác. Trong khi thực hiện nếu gặp khó khăn mắc mứu, đề nghị các Bộ, các ngành, các Ủy ban Nhân dân các cấp phản ánh cho Tổng công đòan và Bộ Tài chính biết để nghiên cứu và giải quyết.