1. Các Bộ trượng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Hội đồng quản trị Tổng công ty 91 đánh giá cụ thể tình hình họat động của doanh nghiệp nhà nước trực thuộc kể từ khi thực hiện phương án sắp xếp lại theo Chỉ thị số 500/TTg của a. Nhóm một: gồm những doanh nghiệp quan trọng, cần duy trì họat động theo Luật doanh nghiệp nhà nước để phát huy vai trò nòng cốt và dẫn dắt trong quá tình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Đó là những doanh nghiệp cần duy trì 100% vốn nhà nước và một số doanh nghiệp nhà nước họat động sản xuất kinh doanh được lựa chọn thật chặt chẽ thuộc các lĩnh vực cần cổ phần hóa nhưng chưa có điều kiện thực hiện cổ phần hóa từ nay đến năm 2000 như các Tổng công ty nhà nước (trừ việc cổ phần hóa một số doanh nghiệp thành viên của Tổng công ty) và một số doanh nghiệp quan trọng khác có ý nghĩa lớn trong các cân đối của nền kinh tế (tham khảo Phụ lục ban hành kèm theo Chỉ thị này). Các doanh nghiệp nhóm này cần được tập trung chỉ đạo kiện tòan về tổ chức, cán bộ, tài chính; ưu tiên bổ sung tối thiểu cho được 30% yêu cầu vốn lưu động định mức; tạo điều kiện chủ động huy động vốn và bảo tòan vốn để không ngừng đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả họat động kinh doanh. Đối với doanh nghiệp công ích: căn cứ vào Nghị định số 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ, xác định danh mục cụ thể và báo cáo b. Nhóm hai: gồm những doanh nghiệp cần chuyển đổi cơ cấu sở hữu. Đó là những doanh nghiệp không cần duy trì 100% vốn của Nhà nước. Trong nhóm này cần phân rõ những doanh nghiệp cần duy trì tỷ lệ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt của Nhà nước, đại diện sở hữu Nhà nước giữ vai trò điều hành doanh nghiệp (tham khảo Phụ lục ban hành kèm theo Chỉ thị này). Trong kế họach cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước năm 1998-1999 từng Bộ, địa phương, Tổng công ty 91 phải lựa chọn ít nhất 20% số doanh nghiệp hạch tóan độc lập hoặc hạch tóan phụ thuộc, không cần duy trì 100% vốn Nhà nước để thực hiện cổ phần hóa và gửi kế họach này đến Ban chỉ đạo Trung ương cổ phần hóa trước ngày 31 tháng 5 năm 1998 để tổng hợp trình c. Nhóm ba: Gồm những doanh nghiệp bị thua lỗ kéo dài. Đó là những doanh nghiệp qua hai năm liên tục trở lên bị lỗ, không trả được nợ đến hạn, không nộp đủ thuế cho Nhà nước, không trích đủ bảo hiểm xã hội và các qũy khác theo quy định. Các doanh nghiệp thuộc nhóm này được xử lý như sau: . Nếu doanh nghiệp có thị trường tiêu thụ sản phẩm nhưng do thiếu vốn hoặc năng lực quản lý yếu kém thì cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp xem xét biện pháp hỗ trợ và kiên quyết thay thế cán bộ để chấn chỉnh quản lý. Sau đó sẽ thực hiện các biện pháp chuyển đổi cơ cấu sở hữu. Nếu doanh nghiệp không có khả năng khắc phục thì bán đấu giá hoặc giải thể. Cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp khi triển khai các thủ tục giải thể doanh nghiệp phải chú ý trách nhiệm thu hồi và trả những khỏan nợ đã phát sinh để tránh gây khó khăn cho các doanh nghiệp có liên quan. Trường hợp lâm vào tình trạng phá sản thì giải quyết theo Luật phá sản doanh nghiệp. Bộ Kế họach và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Tòa kinh tế Tòa án nhân dân tối cao báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp và kiến nghị những biện pháp tháo gỡ các vướng mắc để việc thực hiện Luật phá sản doanh nghiệp thực sự giúp giải quyết tình hình công nợ của doanh nghiệp phù hợp với pháp luật và chuyển giao những tài sản còn giá trị sử dụng cho những pháp nhân khác kinh doanh có hiệu quả hơn.
2. Các đề án phân lọai và tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của từng Bộ, ngành, Tổng công ty 91 và địa phương phải hòan thành trước 30 tháng 12 năm 1998 (riêng thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh hòan thành trước 30 tháng 6 năm 1998) và tiến hành phê duyệt theo quy định sau:
3. Thành lập một số tổ công tác của Trung ương phối hợp với tổ công tác của những địa phương có nhiều doanh nghiệp nhà nước để hướng dẫn và đôn đốc thực hiện các giải pháp trên đây.
1. Ban chỉ đạo Trung ương đổi mới doanh nghiệp phối hợp với Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ, các Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nắm sát tình hình cụ thể của từng Tổng công ty nhà nước để kịp thời chấn chỉnh những yếu kém về tổ chức quản lý, sớm bổ sung đủ cán bộ lãnh đạo để tăng cường năng lực quản lý của Tổng công ty; sơ kết kinh nghiệm thí điểm tổ chức công ty tài cính của Tổng công ty nhà nước để nhân rộng; sơ kết tình hình thực hiện Quy chế họat động của Hội đồng quản trị, mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc để hướng dẫn và bổ sung cho phù hợp. Trong năm 1998, cần lựa chọn 2-3 Tổng công ty để thí điểm chế độ giao cho Hội đồng quản trị tuyển chọn và thuê Tổng giám đốc (Giám đốc) để rút kinh nghiệm thay thế cho chế độ bổ nhiệm Tổng giám đốc (Giám đốc). Bộ Kế họach và Đầu tư chuẩn bị gấp trình 2. Tăng cường hơn nữa vai trò của Tổng công ty trong việc xây dựng chiến lược, kế họach phát triển, tổ chức phối hợp, kiểm tra giám sát trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp thành viên. Tổng công ty phải là một thể thống nhất và phát huy được sức mạnh tổng hợp tòan Tổng công ty, khắc phục tình trạng họat động rời rạc của các doanh nghiệp thành viên. Đối với những doanh nghiệp thành viên họat động có hiệu quả và ổn định thì phân cấp mạnh hơn. Đối với những doanh nghiệp thành viên yếu kém và họat động chưa ổn định thì phải có phương án chấn chỉnh, sắp xếp tổ chức lại, khi tình hình có chuyển biến tốt sẽ mở rộng phạm vi phân cấp.
3. Việc kết nạp thành viên mới hoặc đưa thành viên hiện có ra khỏi Tổng công ty phải được xem xét từng trường hợp cụ thể trên cơ sở hiệu quả kinh tế - xã hội. Đối với những Tổng công ty có nhiều doanh nghiệp thành viên bị thua lỗ đã được Tổng công ty chấn chỉnh và Nhà nước đã thực hiện các biện pháp hỗ trợ nhưng vẫn không có chuyển biến tích cực thì cần xem xét tổ chức lại hoặc giải thể Tổng công ty.
4. Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định phân cấp của Chính phủ cho Tổng công ty. Chấm dứt tình trạng can thiệp trực tiếp của Bộ quản lý ngành và các Bộ chức năng vào họat động kinh doanh của Tổng công ty và các doanh nghiệp thành viên Tổng công ty đồng thời tăng cường chức năng quản lý nhà nước của các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với các Tổng công ty theo quy định của pháp luật, nhưng quản lý nhà nước đối với các thành phần kinh tế khác.
5. Các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các Tổng công ty 91 tiến hành sơ kết tình hình thực hiện mô hình Tổng công ty, gửi Ban chỉ đạo Trung ương đổi mới doanh nghiệp tổng hợp trình Chính phủ vào cuối qúy hai năm 1998.
1. Lọai doanh nghiệp nhà nước hiện có, chưa tiến hành cổ phần hóa. Doanh nghiệp nhà nước họat động công ích theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 56/CP ngày 2 tháng 10 năm 1996 của Chính phủ. Riêng những doanh nghiệp có mức vốn dưới 10 tỷ đồng, cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp có thể xem xét để quyết định vận dụng các hình thức sắp xếp cho thích hợp. Sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ Nhà nước độc quyền kinh doanh: vật liệu nổ, hóa chất độc, chất phóng xạ, in bạc và các chứng chỉ có giá, mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế.
2. Lọai DNNN hiện có, Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt khi tiến hành cổ phần hóa: Doanh nghiệp công ích có mức vốn trên 10 tỷ đồng, Khai thác quặng qúy hiếm; Khai thác khóang sản quy mô lớn; Khai thác dầu khí; Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh và hóa dược; Sản xuất kim lọai màu và kim lọai qúy hiếm quy mô lớn; Sản xuất điện quy mô lớn, truyền tải và phân phối điện; Sửa chữa phương tiện bay; Bưu chính viễn thông (trừ lĩnh vực công nghiệp và xây dựng); Vận tải đường sắt, hàng không, viễn dương; In, xuất bản, sản xuất rượu, bia, thuốc lá quy mô lớn. Ngân hàng đầu tư, Ngân hàng cho người nghèo. Chú thích: Việc thành lập mới các Công ty cổ phần được thực hiện theo quy định của Luật Công ty. PHÓ THỦ TƯỚNG (Đã ký) Ngô Xuân Lộ c