a) Phát triển kỹ thuật cao: - Từng bước hiện đại hóa trang thiết bị y tế và phát triển các kỹ thuật cao trong y tế tiến tới năm 2000 về cơ bản không phải gửi bệnh nhân ra nước ngòai điều trị. - Phát triển và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới của thế giới. Phấn đấu để trên một số lĩnh vực ta có thế mạnh trở thành trung tâm của khu vực vào năm 2020. - Phát triển công nghệ sinh y học theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại học để sản xuất thuốc, vacxin... Phân tuyến rõ về tổ chức và chuyên môn kỹ thuật để tranh dồn bệnh nhân lên tuyến trên, tạo điều kiện về cán bộ và trang thiết bị, ứng dụng các kỹ thuật thích hợp vào từng tuyến để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngay tại địa phương. Phổ cấp ở tuyến tỉnh các kỹ thuật tán sỏi, siêu âm chẩn đóan, chữa bệnh bằng laser... Mở rộng ứng dụng các kỹ thuật để nâng cao chất lượng các họat động chăm sóc sức khỏe theo hướng gần dân. Đến năm 2000 các bà mẹ có thai được khám thai đủ 3 lần để phát hiện sớm và đề phòng các tai biến sản khoa, có cán bộ y tế đỡ đẻ đúng chuyên môn kỹ thuật, tăng cường chăm sóc sức khỏe tại nhà. Thực hiện công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe. Có chính sách và biện pháp thích hợp để tất cả mọi người, đặc biệt là người có công, gia đình chính sách, người nghèo, đồng bào vùng núi, vùng sâu được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, cả chăm sóc sức khỏe ban đầu và các dịch vụ khám chữa bệnh ở tuyến cao hơn. Chấm dứt tình trạng người nghèo không được khám chữa bệnh vì không có tiền. Bảo đảm các điều kiện phục vụ bệnh nhân tại các cơ sở khám chữa bệnh, đặc biệt là những vấn đề thiết yếu như: tổ chức ăn, mặc cho bệnh nhân và vệ sinh trật tự trong các cơ sở khám chữa bệnh.
b) Các điều kiện bảo đảm thực hiện mục tiêu: Về đầu tư: Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân phải dựa vào nhiều nguồn lực khác nhau bao gồm: đầu tư của nhà nước, sự đóng góp của nhân dân, sự hỗ trợ của các tổ chức kinh tế xã hội và sự giúp đỡ của các nước, các tổ chức quốc tế, trong đó đầu tư của nhà nước đóng vài trò chủ yếu. Về nhân lực: Bảo đảm đủ cán bộ y tế cả về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Chú trọng đào tạo cán bộ có kỹ thuật cao để đáp ứng nhu cầu phát triển kỹ thuật y tế theo kịp trình độ của khu vực, đồng thời đào tạo cán bộ có kiến thức về y tế cộng đồng để đáp ứng nhu cầu tại tuyến cơ sở. Coi y đức là phẩm chất quan trọng ngang với chất lượng chuyên môn của người thầy thuốc. Ban hành chế độ chính sách thích đáng để khuyến khích lao động sáng tạo và tận tình phục vụ người bệnh của cán bộ y tế. Về thuốc và trang thiết bị y tế: Cung cấp đủ thuốc và có chất lượng và trang thiết bị y tế, đặc biệt là thuốc thiết yếu, thuốc chuyên khoa và thuốc cho trẻ em. Tăng cường tuyên truyền và hướng dẫn sử dụng thuộc hợp lý cả trong nhân dân, thấy thuốc và người cung ứng thuốc để tranh tình trạng lạm dụng thuốc. Phát triển công nghiệp dược đảm bảo cung ứng được 70% nhu cầu thuốc cho nhân dân. Phát huy, thừa kế có lựa chọn và sử dụng an tòan, có hiệu lực thuốc y học cổ truyền, thuốc từ nguồn nguyên liệu trong nước để phực vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở cộng đồng. III- CÁC BIỆN PHÁP VÀ CHÍNH SÁCH CHỦ YẾU: 1- Kiệm tòan tổ chức và phát triển mạng lưới chăm sóc sức khỏe nhân dân: Tăng cường hệ thống y tế ở các địa phương theo hướng chính quyền địa phương quản lý các họat động y tế trên địa bàn. Ngành y tế chỉ đạo công tác chuyên môn kỹ thuật thông qua việc điều hành kinh phí và nhân lực y tế. Các chương trình sức khỏe tại địa phương do các cấp chính quyền chỉ đạo, ngành y tế và các ngành khác tổ chức thực hiện và huy động đông đảo nhân dân tham gia. Phát triển y tế cơ sở. Đến năm 2000 tất cả các trạm y tế cơ sở được xây dựng và trạng bị đầy đủ các dụng cụ y tế thông thường. Phấn đấu 40% trạm y tế xã có bác sĩ, 100% y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y sĩ sản nhi, 100% các thôn, bản có cán bộ y tế cộng đồng. Cải tiến phương pháp làm việc của trạm y tế cơ sở để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là triển khai công tác y học dự phòng, chăm sóc sức khỏe tại gia đình với sự tham gia ngày càng nhiều của cộng đồng. ở khu vực miền núi, cùng cao, vùng sâu tiếp tục củng cố và phát triển các Đội y tế lưu động vừa làm nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khỏe, vừa làm công tác phòng, chữa bệnh cho nhân dân. Tăng cường hệ thống y học dự phòng cả về tổ chức, đào tạo và đầu tư nâng cấp các cơ sở chuyên môn. Khôi phục và phát triển các phòng trào vệ sinh phòng bệnh và bảo vệ môi trường sống. Sắp xếp lại hệ thống khám chữa bệnh theo địa bàn dân cư và theo hiệu quả sử dụng. Tổ chức lại mạng lưới y tế các ngành để họat động có hiệu quả hơn và hòa nhập vào mạng lưới y tế chung (trừ một số ngành có nhu cầu đặc biệt như quốc phòng, nội vụ...). Thực hiện đa dạng hóa các lọai hình khám chữa bệnh: Bệnh viện công, bệnh viện liên doanh, bệnh viên dân lập, bệnh viện tư... Đối với một số bệnh viện có điều kiện có thể tổ chức một số khoa hoặc buồng bệnh thu đủ phí để phục vụ cho các đối tượng có nhu cầu và có khả năng chi trả. Tiếp tục xây dựng hai trung tâm y tế chuyên sâu tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, sau đó là Trung tâm tại miền Trung. Đến năm 2020 có thêm các trung tâm kỹ thuật cao tại các khu vực miền núi phía bắc, tây bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long. Các trung tâm này cần phát triển những lĩnh vực y học phục vụ thiết thực cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân trong khu vực. 2- Đào tạo, bố trí nhân lực và phát triển khoa học công nghệ: * Cải tiến chương trình giảng dạy cho phù hợp với yêu cầu về y tế cộng đồng, chú trọng đào tạo cán bộ quản lý ngành, cán bộ kỹ thuật có khả năng sử dụng và sửa chữa các trang thiết bị y tế hiện đại. * Có cơ cấu hợp lý về số lượng y, bác sỹ, dược sĩ ở các cơ sở y tế bảo đảm hiệu quả phục vụ bệnh nhân. Tăng cường đào tạo theo địa chỉ và có chính sách khuyến khích để có nhiều cán bộ y tế về công tác tại các vùng cao, vùng sâu, vùng có nhiều khó khăn. Đa dạng hóa các lọai hình đào tạo nhưng phải đảm bảo chất lượng. * Quy họach mạng lưới đào tạo cán bộ y tế, có kế họach, chỉ tiêu đào tạo mới, đào tạo lại hàng năm. Xây dựng và ban hành các chính sách cụ thể nhằm đảm bảo đời sống cho cán bộ y tế, nhất là cho cán bộ đi công tác tại vùng có nhiều khó khăn. * Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ: Nghiên cứu bệnh học đặc thù của Việt Nam và kế thừa, nâng cao y học cổ truyền đồng thời nghiên cứu ứng dụng các thành tự khoa học về y và dược học trên thế giới vào lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. 3- Tăng cường đầu tư và quản lý tốt các nguồn lực: * Nhà nước tăng cường đầu tư cho các họat động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, đồng thời huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác như: sự đóng góp của nhân dân, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, viện trợ và hợp tác quốc tế. * Tiếp tục thực hiện tốt việc thu một phần viện phí và phát triển bảo hiểm y tế để tăng thêm nguồn tài chính phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân. Có hình thức thu viện phí đầy đủ đối với người có khả năng chi trả cho việc khám chữa bệnh theo yêu cầu để có thêm điều kiện hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo. Tổ chức lại và chuyển đổi phương thức họat động của bảo hiểm y tế, thực hiện cho được bảo hiểm y tế tự nguyện để đến năm 2005 viện phí phần lớn được thực hiện qua bảo hiểm y tế. * Đẩy mạnh hợp tác quốc tế, khuyến khích huy động các nguồn vốn dưới hình thức viện trợ hoặc hợp tác, liên doanh, liên kết và đầu tư, kể cả đầu tư 100% vốn từ bên ngòai. Cần tập trung vào các lĩnh vực phòng bệnh, chữa bệnh, sản xuất thuốc và trang thiết bị y tế, hỗ trợ, chương trình y tế quốc gia. 4- Xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân: Các cơ quan Nhà nước, các đòan thể nhân dân, phối hợp với ngành y tế triển khai các chương trình sức khỏe tại địa phương, tuyên truyền vận động làm cho mỗi người dân hiểu và tự giác tham gia các họat động chăm sóc sức khỏe tại gia định và cộng đồng. Ngành Y tế coi trọng xã hội hóa các họat động của ngành, chủ động phối hợp, hợp tác với các ngành, các đòan thể làm tốt vai trò nòng cốt trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân. Ngành văn hóa thông tin: Thông qua các phương tiện truyền thông như báo chí, phát thanh, truyền hình... thường xuyên tuyên truyền giáo dục về bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, vận động nhân dân hưởng ứng và tham gia vào các họat động chăm sóc sức khỏe. Ngành thể dục thể thao: Tổ chức và vận động nhân dân tham gia các phong trào rèn luyện thân thể để nâng cao sức khỏe. Ngành giáo dục: Đưa nội dung, giáo dục sức khỏe vào chương trình chính khóa của các trường phổ thông, giáo dục học sinh về nếp sống văn minh, nếp sống vệ sinh, khuyến khích học sinh tham gia vào các họat động giữ gìn sức khỏe cho bản thân và gia đình mình. Ngành dân số và kế họach hóa gia đình: Thực hiện tốt việc vận động và hướng dẫn kế họach hóa gia đình nhằm giảm nhanh tỷ lệ sinh, góp phần thực hiện tốt chương trình sức khỏe sinh sản. Ngành Lao động - Thương binh và xã hội: Phối hợp với ngành y tế thực hiện các chính sách xã hội trong khám chữa bệnh cho người có công, người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Thực hiện việc phòng chống các tệ nạn xã hội có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe như nghiện hút, ma túy, mại dâm... Ngành xây dựng, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và địa phương triển khai tốt các chương trình vệ sinh môi trường, chương trình nước sạch, phong trào sạch và xanh tại các đô thị, tích cực giải quyết vấn đề cầu tiêu trên sông, ao hồ ở nông thôn thực hiện an tòan trong sự dụng các hóa chất trừ sâu trong nông nghiệp. 5- Đẩy mạnh thực hiện các chương trình mục tiêu: Tiếp thu thực hiện chương trình y tế quốc gia nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra về tiêm chủng mở rộng, phòng chống sốt rét, bướu cổ, lao, phong, nâng cấp các bệnh viên và xây dựng y tế xã. Triển khai đồng bộ các chương trình sức khỏe nhằm đạt được các mục tiêu: * Các chương trình: Chống tiêu chẩy, chống nhiễm khuẩn hô hấp cấp, dinh dưỡng, phòng chống thấp tim ở trẻ em... * Các chương trình giáo dục sức khỏe, sức khỏe môi trường, sức khỏe học đường, vệ sinh an tòan thực phẩm, y học lao động. * Các chương trình phòng chống các bệnh ung thư, tim mạch, tại nạn giao thông... * Chương trình phục hồi chức năng, phòng ngừa các di chứng bệnh tật, phát huy việc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng. * Chương trình đề phòng và khắc phục hậu quả do thảm họa gây ra; gắn quy họach các cơ sở y tế với quy họach phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương thường hay xẩy ra thiên tai. * Chương trình cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe phụ nữ; trước hết là chăm lo đến điều kiện làm việc của chị em nữ. * Chăm sóc sức khỏe sinh sản, bao gồm sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế họach hóa gia đình và những vấn đề khác của chức năng sinh sản. Bảo đảm sinh đẻ an tòan. Giảm nhanh các bệnh đường sinh sản và bệnh lây theo đường tình dục kể cả HIV/AIDS, viêm gan do Virus. * Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Làm cho cuộc sống về thể chất, tinh thần và xã hội của người cao tuổi được tốt hơn phát triểm các hình thức chăm sóc người cao tuổi về đời sống cũng như về sức khỏe ở gia đình và cộng đồng. 6- Phát huy và phát triển y học cổ truyền dân tộc, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại: * Triển khai tòan diện chương trình mục tiêu của ngành y tế về y học cổ truyền. * Tăng cường đầu tư cho việc nghiên cứu ứng dụng và hiện đại học y học cổ truyền trên các mặt: Nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, chẩn đóan, điều trị, sản xuất thuốc và nguyên liệu làm thuốc. * Đẩy mạnh đào tạo đội ngũ cán bộ thực hành y học cổ truyền. Thành lập các Khoa y học cổ truyền tại đại học y Hà Nội và Đại học y, dược thành phố Hồ Chí Minh. Ngành y tế phối hợp với Hội y học cổ truyền Việt Nam và các Hội quần chúng khác vận động nhân dân phát triển các lọai cây. 7- Bảo đảm thuốc chữa bệnh, phát triển công nghiệp dược và trang thiết bị y tế.
a) Triển khai thực hiện chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam với các mục tiêu cơ bản là: Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân, thực hiện sử dụng thuốc an tòan, hợp lý, hiệu quả. (Có văn bản riêng chính sách quốc gia về thuốc).
b) Về trang thiết bị y tế: Tiêu chuẩn hóa trang thiết bị y tế ở các tuyến, tăng cường kiểm tra và giám sát công tác xuất nhập khẩu trang thiết bị y tế. Mở rộng công nghiệp trang thiết bị y tế nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước về các lọai trang thiết bị y tế thông thường. Khai thác tiềm năng khoa học công nghệ của các thành phần kinh tế, mở rộng hợp tác quốc tế để tạo điều kiện sản xuất các trang thiết bị y tế kỹ thuật cao. Tăng cường đào tạo cán bộ về sử dụng, bảo trì các trang thiết bị hiện đại để sử dụng được lâu dài và khai thác tối đa công suất sử dụng trang thiết bị. 8- Kết hợp quân y và dân y trong chăm sóc sức khỏe nhân dân. Kết hợp chặt chẽ quân y và dân y để phát huy sức khỏe của tòan ngành y tế Việt Nam phục vụ sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân phục vụ các nhiệm vụ về quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, quân y hỗ trợ cho dân y ở những vùng có nhiều khó khăn trong phòng chống dịch bệnh và khắc phục hậu quả thiên tai. 9- Cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước trong lĩnh vực y tế. Sửa đổi và hòan thiện các thủ tục hành chính trong khám bệnh, chữa bệnh để tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh. Xóa bỏ các hiện tượng tiêu cực trong các dịch vụ y tế. Đổi mới cơ chế quản lý các dịch vụ y tế, gắn trách nhiệm với quyền lợi trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của đơn vị và của từng cá nhân, nâng cao trách nhiệm và vai trò tự chủ của cơ sở khám chữa bệnh. Bồi dưỡng cán bộ quản lý các cấp về kiến thức tổ chức và quản lý trong lĩnh vực y tế. Tăng cường công tác pháp chế ở các cơ quan quản lý y tế, tăng cường họat động của thanh tra y tế từ trung ương đến địa phương; bảo đảm trật tự, kỷ cương trong các họat động của ngành y tế, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nước trong bảo vệ sức khỏe nhân dân. Tăng cường mối quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước về Bộ Y tế với Công đòan y tế, với các Tổng hội y dược, Hội y học cổ truyền, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân . CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VỀ THUỐC CỦA VIỆT NAM I. SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VỀ THUỐC (CSQGT) Thuốc là một trong những yếu tố quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Ngành Dược có trách nhiệm bảo đảm cung ứng đủ nhu cầu hợp lí về thuốc chữa bệnh cho nhân dân và tiến hành mọi họat động có liên quan để bảo đảm cung ứng tốt, bao gồm sản xuất, mua bán, xuất nhập, phân phối, tồn trữ, bảo đảm chất lượng thuốc, sử dụng thuốc hợp lí, an tòan. Những năm gần đây công nghiệp Dược ở nhiều nước và ở nước ta phát triển mạnh mẽ; số mặt hàng thuốc được đưa ra thị trường và được sử dụng ngày càng nhiều trong điều trị cũng gây khó khăn cho việc quản lí thuốc. Chi phí về thuốc ngày càng tăng trong ngân sách Y tế, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mỗi nước có những đặc điểm riêng về kinh tế, xã hội và truyền thống văn hóa nên có những yêu cầu và giải pháp cụ thể giải quyết vấn đề thuốc cho nước mình. Tổ chức Y tế thế giới cũng khuyến cáo các nước đang phát triển cần có chính sách quốc gia về thuốc. Ở Việt Nam, trong những năm qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản chính sách liên quan đến thuốc, nhưng còn chưa đồng bộ. Hiện nay, lượng thuốc chữa bệnh tăng lên nhiều, chủng lọai rất phong phú, đa dạng, chất lượng có tiến bộ, việc cung ứng thuốc cho dân đã được cải thiện, nhưng cũng còn một hạn chế như mạng lưới phân phối thuốc chưa đều khắp, có tình trạng lạm dụng thuốc trong điều trị gây tốn kém và tác hại, công tác quản lí nhà nước chưa theo kịp yêu cầu của tình hình thực tế. Vì thế Chính phủ ban hành có chính sách quốc gia về thuốc làm cơ sở cho ngành Dược nói riêng và ngành Y tế nói chung thực hiện tốt chức năng chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong thời kì mới. II- MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH QUỐC GIA VỀ THUỐC CỦA VIỆT NAM. Chính sách quốc gia về thuốc của Việt Nam nhằm mục tiêu: + Bảo đảm cung ứng thường xuyên và đủ thuốc có chất lượng đến người dân. + Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lí, an tòan, có hiệu quả. Những mục tiêu cụ thể là: + Đảm bảo cung ứng đủ thuốc có chất lượng, giá cả phù hợp. Thực hiện sự công bằng trong cung ứng thuốc cho người bệnh. Ưu tiên thuốc thiết yếu, chú trọng thuốc cổ truyền. + Tận dụng các nguồn lực để phát triển ngành công nghiệp dược phẩm Việt nam đáp ứng phần lớn nhu cầu thuốc chữa bệnh cho dân. + Phát triển và hòan thiện mạng lưới cung ứng thuốc cho cộng đồng, chú trọng những vùng khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa. + Bảo đảm chất lượng thuốc trong sản xuất, tồn trữ, lưu thông. + Nâng cao hiệu lực công tác quản lí nhà nước về dược trên cơ sở hòan chỉnh hệ thống luật pháp và qui chế. + Tổ chức lại ngành Dược phù hợp với cơ chế mới. + Phát triển nguồn nhân lực Dược hợp lí về cơ cấu, đủ về số lượng, nâng cao trình độ chuyên môn và bảo đảm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ dược. + Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học Dược, áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất, cung ứng và công tác quản lí. + Đẩy mạnh hợp tác liên ngành, liên doanh, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực Dược. Kế họach thời gian: Từ năm 1996 đến 2010. Chia làm 3 giai đọan: . Giai đọan 1: 1996 - 2000. . Giai đọan 2: 2001 - 2005. . Giai đọan 3: 2006 - 2010. III- CÁC CHÍNH SÁCH CỤ THỂ:
1. Thuốc thiết yếu - Sử dụng thuốc hợp lý, an tòan Bảo đảm sử dụng thuốc hợp lý, an tòan, hạn chế tối đa những tai biến do kê đơn, bán thuốc và dùng thuốc không theo đúng quy định chuyên môn, cần có: + Chính sách về thuốc thiết yếu. + Nhà nước chỉ đạo các Bộ, Ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y tế để triển khai chính sách quốc gia về thuốc thiết yếu. Thực hiện các biện pháp hỗ trợ để mọi người dân, kể cả người nghèo, người dân tộc ít người ở các vùng sâu, vùng xa, miền núi đều được cung ứng đủ thuốc thiết yếu cho phòng bệnh và chữa bệnh. + Ngành y tế có trách nhiệm xây dựng và ban hành danh mục thuốc thiết yếu, định kì (3 đến 5 năm) xem xét, bổ xung cho phù hợp với mô hình bệnh tật, điều kiện kinh tế, xã hội của Việt nam, với tiến bộ về khoa học và kỹ thuật trong điều trị. + Ban hành danh mục thuốc quốc gia, dựa trên các tiêu chí phù hợp với mô hình bệnh và phương pháp điều trị trong nước, có hiệu quả cao, bảo đảm an tòan, dễ sử dụng, phù hợp với yêu cầu điều trị ở mỗi tuyến. + Chính sách về thuốc kháng sinh. Thuốc kháng sinh có vai trò rất quan trọng trong điều trị, đặc biệt đối với tình hình bệnh tật của một nước khí hậu nhiệt đới như ta. Chấn chỉnh việc kê đơn và sử dụng kháng sinh, xác định tính kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây bệnh, tạo điều kiện để các cơ sở điều trị có khả năng làm kháng sinh đồ. Ngành y tế cùng với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy định sử dụng kháng sinh cho súc vật nhằm tránh sự gia tăng tính kháng thuốc đối với một số vi khuẩn gây bệnh cho người. + Thành lập Hội đồng thuốc và điều trị ở bệnh viện cùng với việc ban hành các phác đồ điều trị khung. Ban hành Dược thư quốc gia làm tài liệu pháp lí trong việc dùng thuốc, thực hiện qui chế kê đơn thuốc và bán thuốc theo đơn, tên thuốc ghi trong đơn, in trên nhãn thuốc. 2- Đảm bảo chất lượng thuốc. Bảo đảm thuốc tới tay người bệnh đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng và tiêu chuẩn kỹ thuật. + Hiện đại hóa các Viện và Phân viện kiểm nghiệm để làm tốt chức năng quản lý chất lượng thuốc và nguyên liệu làm thuốc, đồng thời nâng cấp một số trạm kiểm nghiệm ở một số địa bàn trọng điểm để hình thành một hệ thống kiểm nghiệm đánh giá chất lượng thuốc, tạo điều kiện để các trạm kiểm nghiệm tuyến tỉnh thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát, kiểm nghiệm, kiểm sóat, phát hiện thuốc giả. + Ngành y tế củng cố Hội đồng dược điển để làm nhiệm vụ biên sọan, xuất bản dược điểm theo định kỳ, bao gồm cả thuốc hiện đại và thuốc cổ truyền, ban hành các quy chế kiểm tra chất lượng thuốc, quy định chế độ bảo hộ quyền lợi của người bệnh được thử thuốc, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm về chất lượng thuốc. 3- Sản xuất cung ứng, xuất nhập khẩu thuốc. Phát triển, hòan thiện, hiện đại hóa ngành công nghiệp Dược Việt Nam và màng lưới cung ứng thuốc, để đáp ứng nhu cầu thuốc cho người dân một cách thuận lợi, kịp thời, có chất lượng, giá cả hợp lý và làm tốt công tác xuất nhập khẩu thuốc. + Qui họach và tổ chức lại ngành công nghiệp dược từ trung ương đến địa phương trên cơ sở tập trung, chuyên môn hóa, đầu tư có trọng điểm, phối hợp các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể, tư nhân, phát triển sản xuất các lọai thuốc theo kế họach phù hợp với yêu cầu trong từng giai đọan, kết hợp kế họach bào chế thuốc với kế họach sản xuất nguyên liệu làm thuốc. Sắp xếp lại các đơn vị sản xuất, phân phối thuốc thuộc khu vực nhà nước, hình thành những tổ chức kinh doanh dược phẩm mạnh. + Chỉ đạo và hỗ trợ các cơ sở sản xuất thuốc phấn đấu đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc. Khuyến khích sản xuất trong nước các lọai thuốc thiết yếu, thuốc chuyên khoa đặc trị, nguyên liệu làm thuốc từ các nguồn dược liệu (nuôi trồng, chế biến, chiết xuất), hóa dược, sinh học. + Bảo hộ quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp trong việc sản xuất thuốc. + Phát triển màng lưới cung ứng thuốc từ tỉnh, thành phố tới các xã, thôn, chú trọng miền núi, vùng sâu, vùng xa. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào mạng lưới bán lẻ thuốc, tham gia tạo nguồn thuốc và nguyên liệu làm thuốc. + Chỉ nhập vào nước ta những lọai thuốc phù hợp với mô hình bệnh tật và chính sách thuốc của Việt Nam, thực hiện các biện pháp bảo hộ thuốc sản xuất trong nước. Hợp tác chặt chẽ với tổ chức Y tế thế giới để có thông tin cần thiết về thuốc của các nước nhập vào Việt Nam. + Bộ Y tế xây dựng và ban hành tiêu chuẩn Thực hành tốt tồn trữ thuốc, khuyến khích với tiến tới bắt buộc các cơ sở kinh doanh thuốc phải đáp ứng các tiêu chuẩn đó. 4- Thuốc cổ truyền + Phát huy, phát triển thuốc cổ truyền. Khai thác có chọn lọc các bài thuốc gia truyền cũng như kinh nghiệm chữa bệnh cổ truyền của nhân dân đã được thử thách, công nhận qua thời gian. Khuyến khích, khen thưởng thỏa đáng về tinh thần và vật chất đối với những cá nhân và đơn vị đã cống hiến những bài thuốc, vị thuốc quí. Tăng cường đầu tư, nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thuốc cổ truyền, tiêu chuẩn hóa kỹ thuật bào chế, chế biến và sử dụng thuốc cổ truyền. + Kế họach hóa nhiệm vụ phát triển nguồn dược liệu, xây dựng các vùng nuôi trồng cây, con làm thuốc, kết hợp trống rừng với trồng cây làm thuốc. + Chọn lọc, bảo tồn, phát triển nguồn giống và gien cây thuốc, xây dựng vườn quốc gia về cây thuốc. + Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng các lương y, những người sản xuất và bào chế thuốc cổ truyền nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ về y dược cổ truyền có chất lượng, có trình độ cao. 5- Đào tạo nhân lực dược + Tăng cường các cơ sở đào tạo cán bộ dược, trước hết là các trường đại học y, dược nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng qui mô đào tạo một cách hợp lí. Bộ Giáo dục - Đào tạo và Bộ Y tế quy định thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng trong việc đào tạo cán bộ dược ở các trình độ, mở rộng đào tạo sau đại học. + Bộ Y tế cùng các ngành liên quan tổ chức tốt việc phân phối và sử dụng cán bộ dược sau khi tốt nghiệp. Tiêu chuẩn hóa các yêu cầu về đạo đức và về chuyên môn đối với những người hành nghề Y - Dược. 6- Thông tin về thuốc. + Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, và bằng các hình thức thích hợp khác cung cấp đầy đủ các thông tin chính xác về thuốc cho các cán bộ y tế, người bệnh và nhân dân. + Đưa vào chương trình giáo dục ở trường học các kiến thức cần thiết về thuốc. Các cơ sở y tế, cán bộ y và dược phải làm tốt nhiệm vụ tư vấn về thuốc cho người dùng thuốc. + Quản lý chặt chẽ việc giới thiệu thuốc, quảng cáo về thuốc, xử lý nghiêm những tổ chức và cá nhân giới thiệu, quảng cáo thuốc không chính xác, không trung thực. 7- Tăng cường công tác quản lý về dược. + Rà sóat, đánh giá lại các văn bản pháp qui về dược đã ban hành để bổ sung, sửa đổi, từng bước hệ thống hóa các quy định pháp luật về thuốc. Chuẩn bị việc sọan thảo một đạo luật về dược. + Củng cố lực lượng thanh tra chuyên ngành về dược, nâng cao chất lượng các thanh tra viên về dược. + Củng cố các cơ quan quản lý nhà nước về dược từ trung ương đến địa phương, tăng cường quản lý các họat động sản xuất, xuất nhập khẩu, phân phối thuốc, kiểm tra chất lượng thuốc. + Phối hợp chặt chẽ họat động của cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức xã hội, nghề nghiệp nhằm phát huy hiệu quả quản lý. 8- Nghiên cứu khoa học, hợp tác trong và ngòai nước về dược. + Đẩy mạnh các họat động nghiên cứu khoa học về thuốc, chú trọng nghiên cứu tạo nguồn nguyên liệu làm thuốc, kỹ thuật bào chế, sinh dược học, thuốc cổ truyền. Khuyến khích việc nhập, chuyển giao các công nghệ hiện đại trong sản xuất thuốc. + Xây dựng các trung tâm nghiên cứu khoa học về Dược tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Khuyến khích các doanh nghiệp nhà nước và từ tư nhân tiến hành các họat động nghiên cứu về thuốc. Có chính sách bồi dưỡng và khen thưởng thỏa đáng đối với các nhà khoa học có những công trình có giá trị về dược. + Đẩy mạnh hợp tác với các nước, trước hết là các nước trong khu vực trong việc nghiên cứu khoa học - kỹ thuật dược. Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, chính phủ và phi chính phủ trong sự phát triển công nghiệp dược và ngành dược của ta. Võ Văn Kiệt (Đã ký)