1. Nội dung của cuộc vận động tòan dân tham gia sự nghiệp giáo dục bao gồm: Tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong tòan xã hội theo nhiều hình thức; vận động tòan dân, trước hết là những người trong độ tuổi lao động, thực hiện học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, làm cho xã hội ta trở thành một xã hội học tập. Vận động tòan dân chăm sóc thế hệ trẻ, tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp chặt chẽ giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục ở gia đình và giáo dục ngòai xã hội; tăng cường trách nhiệm của cấp ủy Đảng, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các đòan thể quần chúng, các doanh nghiệp... đối với sự nghiệp giáo dục. Nâng cao ý thức trách nhiệm và sự tham gia của tòan dân đối với giáo dục nhằm củng cố, tăng cường hiệu quả của hệ thống giáo dục để phục vụ tốt việc học tập của nhân dân.
2. Một số chủ trương, biện pháp để thực hiện xã hội hóa họat động giáo dục và đào tạo:
a) Bên cạnh việc củng cố các trường công lập giữ vai trò chủ đạo, lấy đó làm nòng cốt, cần mở ra nhiều hình thức giáo dục, phát triển các lọai hình trường ngòai công lập, tạo cơ hội cho mọi người nâng cao trình độ, tiếp cận được những kiến thức mới, tiến bộ khoa học kỹ thuật để vận dụng trong công việc và vào đời sống hàng ngày; sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để phát triển giáo dục từ xa... Hòan thiện các cơ chế quản lý đánh giá kết quả, chất lượng kọc tập. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các lọai trường, lớp bán công, dân lập, tư thục tại thành phố, thị xã, thị trấn và những vùng có kinh tế thuận lợi. Tỷ lệ hướng dẫn (mang tính định hướng, không có tính bắt buộc) về mức độ phát triển bán công, dân lập và tư thục ở thành phố, thị xã, thị trấn là: đại bộ phận giáo dục mầm non; 10-15% đối với cấp tiểu học; 25% đối với cấp trung học cơ sở; 50% đối với cấp trung học phổ thông. Chuyển giao các trường trung học chuyên nghiệp đào tạo ngành hẹp cho các Tổng công ty, công ty nhà nước trực tiếp quản lý, gắn đào tạo với đơn vị sử dụng. Đối với các Tổng công ty lớn, có nhu cầu phát triển nhanh về nhân lực, cho phép nâng cấp các trường trực thuộc lên cấp cao đẳng trên cơ sở Tổng công ty tự trang trải kinh phí. Chuyển dần các trung tâm dạy nghề công lập sang hình thức bán công, phát triển các trung tâm dạy nghề dân lập và tư thục; gắn đào tạo nghề với thị trường, với doanh nghiệp. Củng cố các trường đại học dân lập hiện có, cho phép lập thêm trường đại học dân lập ở một số địa phương có nhu cầu và khả năng quản lý. Ban hành các chính sách cụ thể hỗ trợ các trường ngòai công lập có điêu kiện họat động tốt như: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hỗ trợ, tạo điều kiện về đất để các trường ngòai công lập xây dựng trường sở; các cơ quan nhà nước cho các trường ngòai công lập thuê các cơ sở, công trình hiện có để làm trường sở học tập; nhân dân góp cổ phần để xây dựng trường ngòai công lập; Ngân hàng cho trường ngòai công lập vay vốn theo điều kiện ưu đãi để đầu tư xây dựng cơ sở, mua sắm thiết bị giảng dạy, học tập; cho phép các giáo viên đang dạy ở các trường công, các nhà khoa học ở các Viện được tham gia dạy ở các trường ngòai công lập. Các giáo viên trường công khi chuyển sang các đơn vị bán công, dân lập, tư thục được tiếp tục hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội.
b) Khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục. Cùng với việc tăng thêm và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước cần cải tiến chế độ học phí, huy động thêm sự đóng góp của cha mẹ học sinh và của các tổ chức sản xuất, kinh doanh. Việc huy động dân tham gia đóng góp cho giáo dục phải được xem xét một cách kỹ lưỡng, căn cứ vào mức sống và khả năng của dân ở từng vùng, từng địa phương trên cơ sở bảo đảm công bằng xã hội, có chính sách học phí phù hợp, đồng thời có chính sách trợ cấp xã hội và cho vay vốn để đi học. Điều chỉnh mức học phí ở các trường phổ thông tại các địa bàn thành phố, thị xã, thị trấn và vùng có thu nhập bình quân cao (trên mức thu nhập bình quân cả nước); thu học phí thấp hơn đối với vùng có thu nhập bình quân thấp (dưới mức thu nhập bình quân cả nước); miễn học phí đối với vùng sâu, vùng xa. Nâng mức học phí ở các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học. Việc thu học phí ở các trường công cùng với kinh phí do ngân sách cấp phải đáp ứng được nhu cầu chi, bảo đảm mức lương thỏa đáng cho giáo viên; chấm dứt việc thu tiền của học sinh một cách tùy tiện, kể cả việc thu tiền dạy thêm trái đạo đức và nguyên tắc sư phạm. Thủ tướng Chính phủ quy định khung học phí, cơ chế thu và sử dụng học phí, giao quyền cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Hiệu trưởng trường đại học quyết định mức học phí cụ thể ở từng địa phương, từng trường đại học. Ngòai học phí, tất cả các trường học chỉ được thu 2 khỏan: đóng góp xây dựng trường sở, lệ phí tuyển sinh và thi. Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn chung và quy định thẩm quyền quyết định mức thu 2 khỏan này.
c) Phân bố hợp lý mạng lưới giáo dục theo vùng địa lý kinh tế, theo nhu cầu và khả năng phát triển của địa phương. Định rõ trách nhiệm và thẩm quyền quản lý của Ủy ban nhân dân địa phương đối với giáo dục và đào tạo trên địa bàn, quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đào tạo do Trung ương quản lý.
d) Nâng cao chất lượng họat động giáo dục, xử lý tốt mối quan hệ giữa quy mô, chất lượng và hiệu quả. Ban hành hệ thống tiêu chuẩn về họat động giáo dục và đào tạo. Các phương án đổi mới về giáo dục và đào tạo phải được cân nhắc, xem xét về tác động xã hội và tài chính. Nâng cao chất lượng sách giáo khoa, cải tiến nội dung và việc in sách giáo khoa để có thể dùng được nhiều năm. Tăng nhanh chất lượng tuyển sinh và đào tạo của các trường sư phạm; chú trọng tăng cường giáo viên cho các trường miền núi, vùng sâu, vùng xa.
đ) Bố trí và sử dụng có hiệu quả ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo theo đúng tư tưởng chỉ đạo của Hội nghị 2 Trung ương khóa VIII. Ưu tiên sử dụng tập trung ngân sách cho các yêu cầu: đào tạo, bồi dưỡng và cải tiến chính sách tiền lương cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; các ngành đào tạo mũi nhọn và bồi dưỡng nhân tài; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Cải tiến cách thức phân bổ và cơ chế quản lý ngân sách giáo dục: - Phân bổ ngân sách dành cho giáo dục và đào tạo địa phương căn cứ vào đặc điểm địa phương (yêu cầu phát triển giáo dục, hòan cảnh địa lý, mật độ dân cư, khả năng kinh tế địa phương và khả năng đóng góp của nhân dân). Phần ngân sách dành cho đào tạo ở Trung ương được phân bổ theo ngành nghề đào tạo và quy mô học sinh, sinh viên. - Giảm chi tiêu hành chính, hạn chế hội họp, dành tiền cho các khỏan chi trực tiếp phục vụ giảng dạy - học tập. - Tiếp tục cải tiến chế độ học bổng, trợ cấp xã hội và tín dụng đào tạo để bảo đảm cho người nghèo có điều kiện học. Nâng cao mức học bổng dành cho học sinh và sinh viên giỏi và học bổng cho các ngành học cần khuyến khích. - Phát triển các qũy khuyến học do nhân dân tự nguyện đóng góp và Nhà nước có thể tài trợ một phần để trợ giúp người nghèo đi học. - Quy định nghĩa vụ đóng góp của các doanh nghiệp cho họat động giáo dục đào tạo, căn cứ vào doanh thu, số lượng và trình độ đào tạo của đội ngũ lao động trong doanh nghiệp. Những khỏan đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp cho họat động giáo dục đào tạo không tính vào doanh thu, lợi nhuận chịu thuế. Bộ tài chính chuẩn bị để Chính phủ ban hành một Nghị định về vấn đề này.
e) Tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, hợp tác giáo dục với nước ngòai để tăng thêm nguồn lực phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Cho phép một số trường đại học hoặc các tổ chức giáo dục nước ngòai, người Việt Nam sống ở nước ngòai được mở trường tại Việt Nam theo pháp luật Việt Nam. Cho phép các trường đại học trong nước mời giáo viên nước ngòai, giáo viên là người Việt Nam sống ở nước ngòai vào giảng dạy. Sử dụng một phần ngân sách và viện trợ của nước ngòai để gửi cán bộ giảng dạy của ta đi bổ túc trình độ ở nước ngòai, gửi sinh viên được tuyển chọn đi nước ngòai học những ngành và cấp học cần thiết.
g) Tổ chức sự phối hợp chặt chẽ và thường xuyên giữa các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo với Mặt trận Tổ quốc và các đòan thể quần chúng để vận động nhân dân tham gia có hiệu quả vào sự nghiệp giáo dục. III. XÃ HỘI HÓA CÔNG TÁC CHĂM SÓC VÀ BẢO VỆ SỨC KHỎE NHÂN DÂN 1- Việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là nhu cầu thiết yếu của mỗi người dân và của cả cộng đồng. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành y tế, mà còn là trách nhiệm của các cấp ủy Đảng và chính quyền, của các đòan thể quần chúng và tổ chức xã hội. Vì vậy, thực hiện xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân là cần thiết và phù hợp với xu thế của thời đại. Nội dung xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người là động viên và tổ chức tốt sự tham gia tích cực, chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng và tư cách cá nhân, trên cả hai mặt họat động và đóng góp; tăng cường sự phối hợp liên ngành và củng cố vai trò nòng cốt của ngành y tế. Xã hội hóa bao gồm: Đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân...), trong đó y tế nhà nước có vai trò chủ đạo. Cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe dưới sự quản lý của Nhà nước, nhằm cung cấp dịch vụ y tế ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép về ngân sách cho Nhà nước. Khuyến khích các tổ chức, các cá nhân trong và ngòai nước thành lập các phòng khám, chữa bệnh nhân đạo. Mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, các nhà thuốc tư nhân, các quầy thuốc, tủ thuốc tại trạm y tế xã phục vụ sức khỏe cộng đồng. Vận động nhân dân tự giác tham gia các họat động chăm sóc sức khỏe: các phong trào vệ sinh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh, phòng dịch, bảo vệ môi trường, phòng, chống các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh; tăng cường sử dụng y học cổ truyền dân tộc, nuôi, trồng các lọai cây, con làm thuốc. Nhân dân tham gia đóng góp và chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua chế độ viện phí, tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.
2. Một số chủ trương, biện pháp để thực hiện xã hội hóa họat động y tế.
a) Đa dạng hóa các lọai hình chăm sóc sức khỏe: cho phép thành lập các bệnh viện bán công, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh hoặc 100% vốn nước ngòai, các xí nghiệp dược phẩm tư nhân hoặc cổ phần. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước đối với các nhà thuốc tư nhân, các phòng khám bệnh và chẩn trị tư nhân, kể cả các cơ sở chữa trị theo y học cổ truyền.
b) Sửa đổi chế độ thu viện phí ở các cơ sở y tế công cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội hiện nay trên nguyên tắc giá viện phí được tính gần đủ các chi phí trực tiếp phục vụ người bệnh, song thực hiện từng bước để nhân dân có thể chấp nhận. Sửa đổi chế độ bảo hiểm y tế cho phù hợp với giá viện phí, xóa bỏ sự phân biệt về chế độ điều trị giữa người nộp viện phí và người đóng bảo hiểm y tế. Đa dạng hóa các mức đóng góp và quy định mức được chi từ qũy bảo hiểm y tế tương ứng với mức và thời gian đóng góp. Thực hiện các cơ chế chi trả thích hợp, tránh tình trạnh lạm dụng thẻ bảo hiểm y tế. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút đông đảo nhân dân tham gia bảo hiểm y tế.
c) Tổ chức tốt việc khám và chữa bệnh cho người nghèo. Chính phủ tài trợ một phần, đồng thời khuyến khích Hội chữ thập đỏ, các Hội từ thiện, tổ chức quần chúng, tổ chức kinh tế của Nhà nước và tư nhân đóng góp để xây dựng các qũy trợ giúp cho người nghèo được khám, chữa bệnh, mua bảo hiểm y tế cho các gia đình có công với nước và cho người nghèo.
d) Các cấp chính quyền chỉ đạo thực hiện cuộc vận động "Nâng cao chất lượng công trình vệ sinh gia đình, phòng chống dịch chủ động", xây dựng vườn thuốc nam tại gia đình thành một phong trào rộng rãi ở cơ sở.
đ) Nâng cao chất lượng mạng lưới y tế cơ sở, trước hết là đào tạo đủ y tá tại thôn bản, nữ hộ sinh và dược tá tại xã; có chính sách động viên bác sĩ, y sĩ, dược sĩ về công tác tại các cơ sở y tế xã. IV. XÃ HỘI HÓA HỌAT ĐỘNG VĂN HÓA.
1. Xã hội hóa họat động văn hóa hướng vào thu hút tòan xã hội, các thành phần kinh tế tham gia các họat động sáng tạo, cung cấp và phổ biến văn hóa, tạo điều kiện cho các họat động văn hóa phát triển mạnh mẽ, rộng khắp, nâng cao dần mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân, trên cơ sở tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa. 2- Một số chủ trương, biện pháp để thực hiện xã hội hóa họat động văn hóa.
a) Sắp xếp lại các đơn vị nghệ thuật được ngân sách nhà nước tài trợ theo hướng: ở trung ương tập trung xây dựng các đòan nghệ thuật tiêu biểu (như Tuồng, Chèo, Cải lương, Xiếc, Kịch nói, Ca múa nhạc dân tộc, Giao hưởng, Balê, Múa rối...); ở địa phương chỉ duy trì những đơn vị tiêu biểu cho truyền thống nghệ thuật của địa phương. Cho phép một số đòan nghệ thuật mang tính gia đình, tư nhân hoặc tập thể được họat động trong khuôn khổ pháp luật, có sự quản lý của Nhà nước về nội dung và chất lượng nghệ thuật.
b) Ngòai chỉ tiêu do Nhà nước giao, cho phép các trường âm nhạc, múa, sân khấu, điện ảnh, thủ công, mỹ thuật được mở rộng đào tạo trên cơ sở đóng góp kinh phí của người học; các đòan nghệ thuật của nhà nước được nhận chỉ tiêu đào tạo của Nhà nước theo phương thức kèm cặp tại đơn vị. Khuyến khích mở các trường dân lập về nghệ thuật, mỹ nghệ.
c) Ngòai các đơn vị của nhà nước, các thành phần kinh tế khác được phép phát hành phim dưới sự quản lý của nhà nước. Cho phép các cơ quan văn hóa, các công ty phát hành phim và chiếu bóng liên doanh với các thành phần kinh tế đầu tư nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật của rạp chiếu bóng, rạp hát.
d) Mở rộng mạng lưới phát hành văn hóa phẩm do các thành phần kinh tế tham gia. Cho phép một số cơ sở in của nhà nước được cổ phần hóa, với tỷ lệ cổ phần bán ra được xác định tùy theo tính chất của từng cơ sở quan trọng. Để tiếp nhận công nghệ tiên tiến, hiện đại hóa ngành in, nâng cao chất lượng sản phẩm in, cho phép liên doanh với các nhà đầu tư trong và ngòai nước một số khâu về in, như chế bản điện tử, in bao bì, nhãn hàng...
đ) Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng các bảo tàng, bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia và sưu tầm, chỉnh lý, phổ biến, bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể; các di tích khác giao cho dân bảo vệ và tu sửa theo sự hướng dẫn về nghiệp vụ của ngành Văn hóa - Thông tin. Cho phép xây dựng các phòng sưu tập của tập thể hoặc tư nhân.
e) Phát triển hệ thống Nhà văn hóa, Trung tâm thông tin từ trung ương đến tỉnh, thành phố và quận, huyện; củng cố các Đội thông tin lưu động, xây dựng các Trung tâm văn hóa mang tính tổng hợp - liên ngành: văn hóa - thông tin, giáo dục, y tế, thể thao... ở các khu dân cư.
g) Tăng cường chỉ đạo đẩy mạnh vận động xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa gắn với bài trừ tệ nạn xã hội, bài trừ hủ tục. Phan Văn Khải (Đã ký)