Sắc lệnh

Về việc ân giảm các phạm nhân, nhân dịp ngày Quốc khánh

Sắc lệnhChưa rõ hiệu lực
Chưa xác định được tình trạng hiệu lực

Cơ sở dữ liệu quốc gia chưa ghi thông tin hiệu lực cho văn bản này. Vui lòng kiểm tra thêm trước khi áp dụng.

Số hiệu
Loại văn bản
Sắc lệnh
Cơ quan ban hành
Chủ tịch nước
Ngày ban hành
10/08/1946
Tình trạng hiệu lực
Chưa rõ hiệu lực
Ngày có hiệu lực
Chưa rõ

Chưa đồng bộ hiệu lực

Lược đồ văn bản

Văn bản căn cứ, được sửa đổi, thay thế hoặc hướng dẫn văn bản này.

Văn bản liên quan1 văn bản
Sắc lệnh 11/SL
Về ân giảm cho các phạm nhân nhân dịp kỷ niệm cách mạng tháng tám và ngày Độc lập 2-9-1949
Hết hiệu lực toàn bộ

Toàn văn

Trình bày theo thể thức văn bản hành chính.

SẮC LỆNH Về ân giảm các phạm nhân, nhân dip Quốc khánh CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Xét nhân dịp nhất chủ niên cuộc cách mệnh tháng tám nay ra ân cho các phạm nhân đã bị kết án nhất định; Sau khi đã hỏi ý kiến Ban thường trực Quốc hội và sau khi Hội đồng Chính phủ đã thỏa thuận; RA SẮC LỆNH: Điều thứ nhất. Những người bị Tòa án quân sự sử phạt tù hay khổ sai trước ngày ký Sắc lệnh này đều được giảm một phần ban thời hạn trừ ra: a) Nếu người bị phạt can tội do thám, liên lạc hoặc tiếp tế cho quân địch hay can tội tống tiền, ăn cướp, bắt cóc, ám sát, làm hoặc lưu hành giấy bạc giả và biển thủ công qũy thì không được hưởng. b) Người bị phạt can tội đàn áp cách mạng, tố cáo phong trào cách mạng trước ngày 19 tháng 8 năm 1945 thì Bộ trưởng bộ Tư pháp sẽ xét lại từng hồ sơ rồi đề nghị việc ân giảm lên Chủ tịch Chính phủ. Những người bị Tòa án quân sự xử tịch biên tất cả gia sản thì nếu có vợ hoặc con vị thành niên, hoặc bố mẹ, ông bà phải phụng dưỡng thì chỉ bị tịch biên ba phần tư thôi. Trừ khi khi nào việc phát mại đã thi hành xong và tiền phát mại đã xung vào công qũy trước ngày ký Sắc lệnh. Điều thứ 2. Những người nào bị Tòa án thường xử phạt dưới 12 tháng tù mà hiện nay còn bị giam, đều được phóng thích ngay nếu đã ngồi tù được quá nửa hạn tù và nếu mới bị phạt tù lần này là lần đầu. Những người nào bị Tòa án thường xử phạt trên 12 tháng tù hoặc tù khổ sai trừ những hạng người kể ở Điều thứ 3 mà hiện nay còn bị giam đều được phóng thích nếu đã ngồi tù được quá nửa hạn tù hoặc khổ sai và nếu mới bị phạt tù hoặc khổ sai, lần này là lần đầu; tuy nhiên, những người ấy đều phải quản thúc ở nguyên quán trong một thời hạn ngang với thời hạn mà phạm nhân đáng nhẽ còn phải ngồi tù. Những người nào bị tòa án thường xử phạt dưới 12 tháng tù nếu là sơ phạm, mà chưa ngồi tù được quá nửa hạn tù thì nay được giảm một phần ba hạn tù. Những người nào bị Tòa án thường xử phạt trên 12 tháng tù hoặc khổ sai, trừ hạng người kể ở Điều thứ 3, nếu là sơ phạm, mà chưa ngồi tù được quá nửa hạn tù thì nay được giảm một phần ba hạn tù; tuy nhiên, những người ấy, khi nào được thả ở đề lao ra, đều phải quản thúc ở nguyên quán trong mộ thời hạn ngang với thời hạn mà đáng nhẽ còn phải ngồi tù. Điều thứ 3. Đối với những người phạm tội ăn cắp, cố ý giết người, làm hoặc lưu hành giấy bạc giả, cố ý đốt nhà, mà bị tòa án thường xử trên 12 tháng tù hoặc khổ sai, thì ngòai điều kiện đã ngồi tù được quá nửa hạn tù, còn phải được Ủy ban Hành chính ký điều tra xem có nên phóng thích hay không. Nếu Ủy ban Hành chính ký xét nên phóng thích, thì hồ so sẽ chuyển sang cho Chưởng lý để ông này đề nghị việc phóng thích có điều kiện với Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Bộ trưởng bộ Tư pháp sẽ ra nghị định cho phóng thích và bắt phạm nhân phải quản thúc ở nguyên quán trong một thời hạn mà phạm nhân đáng nhẽ còn phải ngồi tù. Điều thứ 4. Ngày ký Sắc lệnh là ngày dùng để tính những ai đã ngồi tù hoặc khổ sai quá nửa hạn để được hưởng sự phóng thích nói ở Điều thứ 2 và thứ 3. Điều thứ 5. Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu ủy nhiệm thi hành Sắc lệnh này. Hùynh Thúc Kháng (Đã ký)

Cần hỗ trợ thực hiện văn bản này?

Đối tác dịch vụ đã được kiểm tra.

Văn bản liên quan

18/2026/L-CTNLệnh
Về việc công bố LuậtChủ tịch nước
Chưa rõ hiệu lực
16/2026/L-CTNLệnh
Về việc công bố LuậtChủ tịch nước
Chưa rõ hiệu lực
20/2026/L-CTNLệnh
Về việc công bố LuậtChủ tịch nước
Chưa rõ hiệu lực
19/2026/L-CTNLệnh
Về việc công bố LuậtChủ tịch nước
Chưa rõ hiệu lực
17/2026/L-CTNLệnh
Về việc công bố LuậtChủ tịch nước
Chưa rõ hiệu lực
15/2026/L-CTNLệnh
Về việc công bố LuậtChủ tịch nước
Chưa rõ hiệu lực