Thông tư 196/TBXH

Về việc bổ sung của Bộ Thương binh và xã hội

Thông tưChưa rõ hiệu lực
Chưa xác định được tình trạng hiệu lực

Cơ sở dữ liệu quốc gia chưa ghi thông tin hiệu lực cho văn bản này. Vui lòng kiểm tra thêm trước khi áp dụng.

Số hiệu
196/TBXH
Loại văn bản
Thông tư
Cơ quan ban hành
Bộ Thương binh và xã hội
Ngày ban hành
05/06/1982
Tình trạng hiệu lực
Chưa rõ hiệu lực
Ngày có hiệu lực
Chưa rõ

Chưa đồng bộ hiệu lực

Lược đồ văn bản

Văn bản căn cứ, được sửa đổi, thay thế hoặc hướng dẫn văn bản này.

Chưa có dữ liệu lược đồ cho văn bản này.

Toàn văn

Trình bày theo thể thức văn bản hành chính.

BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 196-TBXH Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 1982 THÔNG TƯ CỦA BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI SỐ 196-TBXH NGÀY 5 THÁNG 6 NĂM 1982 VỀ VIỆC BỔ SUNG THÔNG TƯ SỐ 02/TBXH NGÀY 22 - 2 - 1982 CỦA BỘ THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Bộ Thương binh và xã hội đã ra Thông tư số 2-TBXH ngày 22-2-1982 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 16-HĐBT ngày 8 - 2- 1982 của Hội đồng Bộ trưởng về tinh giản biên chế hành chính. Nay nói rõ thêm như sau: 1. Chế độ đãi ngộ: Chế độ trợ cấp mất sức lao động dài hạn nói tại điểm 3, và chế độ trợ cấp hưu trí nói tại điểm 4, mục III của Nghị quyết số 16-HĐBT được áp dụng chung cho công nhân, viên chức Nhà nước kể cả công nhân quốc phòng (không phân biệt đơn vị sản xuất hay hành chính sự nghiệp) có đủ điều kiện về thời gian công tác như đã nói tại điểm 1 và điểm 2 của Thông tư số 2-TBXH. Đối với quân dân thì không áp dụng Nghị quyết số 16-HĐBT, chờ Bộ Quốc phòng sẽ có Thông tư hướng dẫn thi hành Điều 42 của Luật về sĩ quan quân đội. Quân nhân chuyển ngành hoặc phục viên sau được tuyển vào cơ quan, xí nghiệp Nhà nước thì thời gian tham gia quân đội được coi là thời gian làm nghề nặng nhọc và được cộng với thời gian làm nghề nặng nhọc, độc hại ở cơ quan, xí nghiệp Nhà nước để hưởng trợ cấp hưu trí (nếu có đủ 20 năm). Trường hợp đang làm nghề nặng nhọc, độc hại được cử đi học bổ túc tay nghề, trong thời gian đi học vẫn trực tiếp lao động nặng nhọc, độc hại thì thời gian đi học đó cũng được tính là thời gian làm nghề nặng nhọc, độc hại. 2. Về thủ tục hồ sơ: Nghị quyết số 16-HĐBT nhằm thực hiện tinh giản biên chế quản lý hành chính Nhà nước, do đó chỉ những người thuộc diện dôi ra ở cơ quan quản lý hành chính Nhà nước và các cơ quan tổng Công ty, liên hiệp các xí nghiệp mới được miễn ra hội đồng giám định y khoa. Còn những người thuộc đơn vị sản xuất vật chất (kể cả những người làm gián tiếp), đơn vị sự nghiệp vẫn phải qua hội đồng giám định y khoa khám sức khỏe theo quy định hiện hành. Để chấp hành nghiêm chỉnh Nghị quyết số 16-HĐBT, tránh việc giải quyết cho về hưu, mất sức lao động tràn lan không đúng đối tượng, yêu cầu các đơn vị thuộc cơ quan quản lý Nhà nước, cơ quan tổng công ty và cơ quan liên hiệp các xí nghiệp báo cáo cho Ty, Sở thương binh và xã hội địa phương (nơi cơ quan đóng) danh sách số người thuộc diện dôi ra sẽ cho về hưu, nghỉ việc hưởng trợ cấp mất sức lao động dài hạn trong dịp giảm nhẹ biên chế. Các Ty, Sở thương binh và xã hội khi xét duyệt cấp sổ trợ cấp phải biết trường hợp nào được miễn ra hội đồng giám định y khoa, trường hợp nào phải có biên bản giám định y khoa mới cấp sổ trợ cấp; đồng thời có kế họach bố trí cán bộ phục vụ việc giải quyết cho người về hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động được nhanh chóng. Các đơn vị thuộc các cơ quan nói trên, chưa có danh sách những người thuộc diện dôi ra gửi cho các Ty, Sở thương binh và xã hội thì thủ tục lập hồ sơ vẫn theo quy định hiện hành (nếu chưa đến tuổi quy định vẫn phải qua hội đồng giám định y khoa khám sức khỏe). Những người có đủ 15 năm công tác liên tục nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp mất sức lao động thì khi lập hồ sơ trợ cấp, ty, sở cho đóng dấu trợ cấp mất sức lao động dài hạn. THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Nguyễn Kiện

Cần hỗ trợ thực hiện văn bản này?

Đối tác dịch vụ đã được kiểm tra.