1. Phải thực hiện chế độ ký kết hợp đồng giao nhận thi công giữa A và B hoặc giữa B chính và tổ chức thi công chia thầu (B phụ). Trường hợp các đơn vị kiến thiết tự làm, cũng nên xác định tổ chức A, B nội bộ và hợp đồng giao nhận thi công nội bộ.
2. Phải lập dự tóan trên cơ sở các định mức của Nhà nước đã ban hành và theo các thành phần phí tổn phụ phí lắp máy và gia công thiết bị quy định trong công văn 881-UB-CQL ngày 14 tháng 04 năm 1959 và các văn bản khác có liên quan. Riêng về các khỏan phí tổn trực tiếp phí khác và phí tổn sử dụng máy thi công trong lắp máy và gia công vì hòan tòan khác với các phí tổn này trong công trình kiến trúc, nên cần phải được giải quyết thích đáng với đặc điểm của công tác thi công lắp máy và gia công thiết bị và thích đáng với tổ chức và phương pháp thi công của từng công trình cụ thể.
3. Chế độ và phương pháp cấp phát phải đảm bảo cung cấp vốn đúng dự tóan thiết kế, kịp thời cho nhu cầu thi công, sát khối lượng hòan thành và phù hợp với đặc điểm của công tác thi công lắp máy. Đồng thời, cần đơn giản và phải phát huy tác dụng ngăn ngừa tình trạng thi công phân tán, đảm bảo thúc đẩy đưa nhanh công trình vào sản xuất. II. THỦ TỤC VÀ PHƯƠNG PHÁP CẤP PHÁT
1. Vấn đề tạm ứng: Nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu cần cho việc lắp máy và gia công thiết bị phần lớn đã do bên A cung cấp cho đơn vị nhận thầu bằng hiện vật - và đơn vị nhận thầu lại cũng đã có vốn lưu động xí nghiệp xây lắp đảm bảo. Do đó, nói chung A không cần cấp phát cho B khỏan tạm ứng bằng tiền để dự trữ vật liệu chính. Trường hợp A không cung cấp nguyên vật liệu chính cho B và chuyển tiền tạm ứng cho B tự mua sắm thì khỏan tiền tạm ứng này cần được tính tóan quy định nhất trí giữa A, B, có sự thẩm tra của Ngân hàng kiến thiết địa phương.
2. Vấn đề tạm chi, kết tóan:
a) Để thực hiện tạm chi kết tóan khối lượng hòan thành theo định kỳ, cần phải nghiên cứu quy định tạm thời tỷ lệ hòan thành khối lượng cho mỗi giai đọan thi công. Việc phân chia giai đọan thi công và định tỷ lệ hòan thành cho mỗi giai đọan thi công nay phải căn cứ vào dự tóan lập trên cơ sở định mức năng suất lao động đã tính cho từng động tác thi công lắp máy.
b) Tạm chi lắp máy thực hiện theo định kỳ 10 ngày một lần căn cứ tạm chi là tỷ lệ ước tính thực tế hòan thành khối lượng chủ yếu so với kế họach thi công hàng tháng và được A, B nhất trí xác định. Mỗi tháng thực hiện tạm chi 2 tuần kỳ (10 ngày đầu và giữa tháng) còn cuối tháng phải thực hiện kết tóan.
c) Kết tóan khối lượng lắp máy hàng tháng: cơ sở kết tóan tháng là khối lượng hiện vật của từng máy đã hòan thành qua mỗi giai đọan thi công lắp máy được A, B kiểm nhận và Ngân hàng kiến thiết thẩm tra.
d) Kết tóan đơn vị máy hòan thành, hạng mục công trình lắp máy hòan thành, và tòan bộ công trình lắp máy hòan thành: - Mỗi máy, sau khi hòan thành tòan bộ khối lượng công tác lắp đặt phải làm thủ tục kiểm nhận và kết tóan đơn vị máy hòan thành. - Mỗi hạng mục công trình có lắp đặt nhiều máy, đã kết tóan đơn vị máy khi mỗi máy hòan thành, nhưng lúc tòan bộ các máy trong hạng mục đó được hòan thành phải làm thủ tục kiểm nhận và kết tóan hạng mục công trình lắp máy hòan thành. - Sau khi tất cả các hạng mục công trình lắp máy hòan thành A, B phải làm thủ tục kiểm nhận kết tóan tòan bộ công trình lắp máy hòan thành.
đ) Thiết bị gia công tinh chế tạo chỉ thực hiện kết tóan sau khi đã hòan thành một khối lượng hiện vật cụ thể có thể kiểm nhận được, như; một chi tiết bộ phận thiết bị hoặc tòan bộ một thiết bị. Đối với thiết bị gia công chế tạo lớn; thời gian gia công dài; tùy tình hình cụ thể có thể thực hiện định kỳ kết tóan hợp lý, không làm thủ tục phức tạp và không gây khó khăn về vốn cho tổ chức thi công. Trên đây là một số quy định chung về cấp phát theo khối lượng công trình cho công tác lắp máy và gia công công thiết bị trong xây dựng cơ bản để bước đầu đưa việc cấp phát cho hai lọai công tác này vào nề nếp. Ngân hàng kiến thiết trung ương cần có thông tư giải thích, hướng dẫn thêm về chi tiết thi hành. Cấp phát theo khối lượng công trình cho công tác lắp máy và công tác gia công thiết bị là một công tác mới mẻ. Vì vậy; trong quá trình thi hành thông tư này, gặp khó khăn; mắc mứu, chúng tôi đề nghị các ngành; các địa phương, các đơn vị phản ánh về bộ Tài chính để chúng tôi góp ý kiến giải quyết hoặc kịp thời có những quy định bổ sung cần thiết. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Đào Thiện Thi