a) Lập kế họach, phân bổ vốn: Hàng năm căn cứ vào tình hình cụ thể các Dân tộc thiểu số, Dân tộc Chăm, Khơ me có hòan cảnh đặc biệt khó khăn, Ban Dân tộc hoặc tổ chức phụ trách công tác Dân tộc và Miền núi tỉnh lập dự tóan kinh phí hỗ trợ các Dân tộc đặc biệt khó khăn gửi Sở Tài chính - Vật giá, Ủy ban Kế họach tỉnh để tổng hợp trình Ủy ban Nhân dân tỉnh duyệt gửi cho Ủy ban Dân tộc và Miền núi; Ủy ban Dân tộc và Miền núi tổng hợp, lập dự tóan kinh phí hỗ trợ các Dân tộc thiểu số Dân tộc Chăm, Khơ me có hòan cảnh đặc biệt khó khăn gửi cho Bộ Tài chính, Ủy ban Kế họach Nhà nước để trình trình Thủ tướng Chính phủ duyệt và giao chỉ tiêu kế họach cùng với nhiệm vụ thu chi ngân sách hàng năm cho từng địa phương. Trên cơ sở số vốn đầu tư hỗ trợ các dân tộc đặc biệt khó khăn được giao, Ban Dân tộc hoặc tổ chức phụ trách công tác Dân tộc và Miền núi tỉnh lập dự tóan phân bổ chỉ tiêu kinh phí hỗ trợ cho từng huyện theo các nội dung trên gửi Sở Tài chính- Vật giá, Ủy ban Kế họach tỉnh để tổng hợp trình Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt giao chỉ tiêu cho từng huyện.
b) Các căn cứ quy định cho việc cấp phát vốn: - Đối với vốn hỗ trợ đời sống: Việc xét hỗ trợ cho các hộ Dân tộc có hòan cảnh đặc biệt khó khăn cần tổ chức bình xét trong dân, có ý kiến đề xuất của Ủy ban Nhân dân xã, ý kiến của cơ quan Mặt trận Tổ quốc huyện và được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện phê duyệt. - Đối với vốn hỗ trợ sản xuất: Các hộ có nhu cầu vay vốn sản xuất phải làm đơn xin vay, nêu rõ mục đích vay, số tiền xin vay, thời hạn trả cả vốn và lãi (nếu có) cần tổ chức bình xét trong dân; có ý kiến đề xuất của Ủy ban Nhân dân xã, Cơ quan Mặt trận Tổ quốc huyện, Chi nhánh Kho bạc Nhà nước huyện và được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện phê duyệt.
c) Tổ chức cấp phát vốn:
Căn cứ vào chỉ tiêu vốn hỗ trợ các Dân tộc đặc biệt khó khăn đã được Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện phê duyệt, Sở Tài chính - Vật giá tổ chức cấp phát kinh phí trực tiếp đối với vốn hỗ trợ đời sống và cấp phát qua hệ thống Kho bạc Nhà nước đối với vốn hỗ trợ sản xuất để Kho bạc Nhà nước huyện cho vay các đối tượng được hưởng theo danh sách đã được Ủy ban Nhân dân huyện phê duyệt. Riêng đối với vốn hỗ trợ sản xuất khi cấp phát ngòai các căn cứ nói trên, Kho bạc Nhà nước thực hiện cấp phát, cho vay theo cơ chế cho vay giải quyết việc làm hiện hành. Kho bạc Nhà nước có quyền đình chỉ cấp phát vốn cho vay khi phát hiện sử dụng không đúng mục đích. 3/ Hòan trả các khỏan vay, hõan thời gian trả nợ, miễn giảm số nợ vay: Đến hạn trả nợ, các hộ vay phải có trách nhiệm hòan trả đủ số vốn vay và lãi (nếu có) nộp vào Kho bạc Nhà nước nơi vay. Những hộ vay đến hạn không trả, Kho bạc Nhà nước báo cáo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện xin ý kiến giải quyết. Trường hợp do bị thiên tai, dịch bệnh... làm sản xuất bị thất thu, không có khả năng hòan trả, hộ vay phải làm đơn xin hõan thời hạn trả nợ hoặc xin miễn một phần hay tòan bộ số vốn đã vay. Việc cho hõan thời hạn trả nợ hoặc miễn một phần hay tòan bộ vốn vay do Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện xem xét quyết định. Vốn thu hồi vay đến hạn và lãi (nếu có) được để lại cho tỉnh làm vốn tiếp tục cho các hộ khác cho vay hỗ trợ đời sống. 4/ Báo cáo, quyết tóan vốn: Kho bạc Nhà nước tổ chức sổ sách theo dõi số vốn cấp hỗ trợ Dân tộc khó khăn; cuối mỗi qúy và cuối năm lập báo cáo quyết tóan kinh phí hỗ trợ Dân tộc khó khăn gửi Sở Tài chính - Vật giá. Sở Tài chính - Vật giá có trách nhiệm xem xét và duyệt quyết tóan số vốn hỗ trợ Dân tộc khó khăn theo quy định về xét duyệt quyết tóan hiện hành, báo cáo Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, đồng thời gửi Ủy ban Dân tộc và Miền núi để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Bộ Tài chính, Ủy ban Kế họach Nhà nước. 5/ Ủy ban Dân tộc và Miền núi căn cứ vào tình hình cụ thể của từng địa phương trong từng thời kỳ, hướng dẫn các địa phương thực hiện tốt vốn hỗ trợ Dân tộc đặc biệt khó khăn, tiến hành kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn nhằm đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả thiết thực, đến tận tay từng hộ gia đình. 6/ Việc triển khai tổ chức thực hiện vốn hỗ trợ Dân tộc khó khăn thực tế có một số công việc phát sinh như: tổ chức họp để phổ biến quán triệt chủ trương, bàn biện pháp thực hiện, lập phương án phân bổ vốn, tổ chức sổ sách, biểu mẫu để theo dõi, quản lý, tổ chức các đòan đi chỉ đạo, kiểm tra giám sát, đánh giá...; do đó cần có một khỏan kinh phí để bảo đảm các họat động trên. Liên Bộ thống nhất các mức chi cho các họat động trên từ mức vốn 500 triệu đồng trở lên là 2%, dưới 500 triệu đồng là 3% trên tổng số vốn thực tế cho vay, tính trong tổng nguồn vốn hỗ trợ Dân tộc đặc biệt khó khăn và giao cho Sở Tài chính - Vật giá căn cứ vào khối lượng công việc, lập dự tóan trình Ủy ban Nhân dân tỉnh duyệt bổ sung kinh phí cho từng đơn vị thực hiện. III- ĐIỀU KHỎAN THI HÀNH: Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/1995, trong quá trình thực hiện có vấn đề gì vướng mắc đề nghị các tỉnh phản ánh về Liên Bộ để xem xét điều chỉnh cho phù hợp. Phan Thanh Xuân (Đã ký) Tào Hữu Phùng (Đã ký)