Sắc lệnh 69/SL

Về việc những bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bào chữa cho, trước các toà án thường và toà án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình

Sắc lệnhChưa rõ hiệu lực
Chưa xác định được tình trạng hiệu lực

Cơ sở dữ liệu quốc gia chưa ghi thông tin hiệu lực cho văn bản này. Vui lòng kiểm tra thêm trước khi áp dụng.

Số hiệu
69/SL
Loại văn bản
Sắc lệnh
Cơ quan ban hành
Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà
Ngày ban hành
18/06/1949
Tình trạng hiệu lực
Chưa rõ hiệu lực
Ngày có hiệu lực
Chưa rõ

Chưa đồng bộ hiệu lực

Lược đồ văn bản

Văn bản căn cứ, được sửa đổi, thay thế hoặc hướng dẫn văn bản này.

Văn bản liên quan1 văn bản
Sắc lệnh 144/SL
Về việc mở rộng quyền bào chữa cho các bị cáo trước các toà án
Hết hiệu lực toàn bộ

Toàn văn

Trình bày theo thể thức văn bản hành chính.

SẮC LỆNH SỐ 69/SL NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 1949 CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA Chiểu sắc lệnh số 13 ngày 24-1-1946 và số 51 ngày 17-4-1946 tổ chức các tòa án và ấn định thẩm quyền của các tòa án; Chiểu sắc lệnh số 21 ngày 14-2-1946 tổ chức các tòa án quân sự; Chiểu sắc lệnh tổ chức các tòa án binh; Chiểu thông lệnh số 12-NV/CT ngày 29-12-1946 tổ chức tư pháp trong tình thế đặc biệt; Chiểu đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Theo quyết nghị của Hội đồng Chính phủ sau khi Ban thường trực Quốc hội thỏa thuận; RA SẮC LỆNH: Điều 1 Từ nay đến khi nào có thể lệ khác, trước các tòa án thường và tòa án đặc biệt xử việc tiểu hình và đại hình, trừ tòa án binh tại mặt trận, bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư, bào chữa cho. Công dân do bị can đã tự chọn để bênh vực mình phải được ông Chánh án thừa nhận. Điều 2 Nếu bị can không có ai bênh vực, ông Chánh án có thể, tự mình hay theo lời yêu cầu của bị can, cử một người ra bào chữa cho bị can. Điều 3 Người đứng ra bênh vực không được nhận tiền thù lao của bị can hay của thân nhân bị can. Người nào phạm vào điều này sẽ bị truy tố và trừng phạt như tội lừa đảo. Điều 4 Người nào để lộ những điều bí mật đã biết trong khi xem hồ sơ, hoặc trong cuộc thẩm vấn tại phiên tòa mà công chúng không được dự thính, sẽ bị phạt từ 1 đến 5 năm tù và từ 1.000 đồng đến 10.000 đồng. Điều 5 Bộ trưởng Bộ Tư pháp sẽ ra nghị định quy định chi tiết để thi hành sắc lệnh này. Điều 6 Các ông Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng chiểu sắc lệnh thi hành.

Cần hỗ trợ thực hiện văn bản này?

Đối tác dịch vụ đã được kiểm tra.

Văn bản liên quan

051/SLSắc lệnh
Về việc bãi bỏ Điều 5 và Điều 6 và quy định về quốc tịch Việt namChủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà
Chưa rõ hiệu lực
017/SLSắc lệnh
Về việc quy định nhiệm vụ và tổ chức Uỷ ban dân tộcChủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà
Chưa rõ hiệu lực