Pháp lệnh 18/LCT

Về việc sửa đổi Điều 15 của Pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của Toà án nhân dân địa phương ngày 23-3-1961

Pháp lệnhHết hiệu lực toàn bộ
Văn bản này đã hết hiệu lực toàn bộ từ 13/07/1981

Kiểm tra văn bản thay thế (nếu có) trong lược đồ bên dưới trước khi áp dụng.

Số hiệu
18/LCT
Loại văn bản
Pháp lệnh
Cơ quan ban hành
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
Ngày ban hành
15/01/1970
Tình trạng hiệu lực
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày có hiệu lực
27/01/1970
Ngày hết hiệu lực
13/07/1981

Tình trạng hiệu lực theo vbpl.vn, cập nhật 18/09/2026

Lược đồ văn bản

Văn bản căn cứ, được sửa đổi, thay thế hoặc hướng dẫn văn bản này.

Sửa đổi, bổ sung1 văn bản
Pháp lệnh 18/LCT
Pháp lệnh số Số: 18/LCT Quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức các Toà án nhân dân địa phương
Hết hiệu lực toàn bộ
Văn bản căn cứ1 văn bản
Luật Không số
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số Không số
Chưa rõ hiệu lực
Văn bản dẫn chiếu1 văn bản
Pháp lệnh 18/LCT
Pháp lệnh số Số: 18/LCT Quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức các Toà án nhân dân địa phương
Hết hiệu lực toàn bộ
Được quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành1 văn bản
Luật Không số
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số Không số
Chưa rõ hiệu lực
Văn bản liên quan1 văn bản
Lệnh 19/LCT
Công bố Pháp lệnh sửa đổi điều 15 của pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhân dân địa phương ngày 23/3/1961
Hết hiệu lực toàn bộ

Toàn văn

Trình bày theo thể thức văn bản hành chính.

PHÁP LỆNH

Sửa đổi điều 15 của Pháp Lệnh quy định cụ thể

về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các

Toà án nhân dân địa phương ngày 23 tháng 3 năm 1961

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Căn cứ vào điều 5 của Luật tổ chức Toà án nhân dân ngày 14 tháng 7 năm 1960;

Xét thấy cần phải điều chỉnh số thẩm phán và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán của một số Toà án nhân dân địa phương để bảo đảm cho các Toà án đó đáp ứng được yêu cầu công tác;

Theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao,

QUYẾT ĐỊNH

Nay thay điều 15 của pháp lệnh quy định cụ thể về tổ chức của Toà án nhân dân tối cao và tổ chức của các Toà án nhân dân địa phương ngày 23 tháng 3 năm 1961, bằng điều 15 (mới) sau đây:

Điều 15 (mới).- Chánh án, Phó chánh án và các thẩm phán của các Toà án nhân dân địa phương các cấp do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.

Các uỷ viên Uỷ ban thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra và bãi miễn.

Chánh án, Phó chánh án, các thẩm phán và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán có thể là đại biểu Hội đồng nhân dân hoặc không phải là đại biểu Hội đồng nhân dân.

Số thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố và tỉnh trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương, kể cả Chánh án và Phó chánh án, có từ bốn đến mười một người. Số uỷ viên Uỷ ban thẩm phán của các Toà án nhân dân đó có từ ba đến bảy người.

Số thẩm phán của các Toà án nhân dân thành phố thuộc tỉnh, thị xã, huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương, kể cả Chánh án và Phó chánh án, không quá năm người.

Chánh án Toà án nhân dân tối cao căn cứ vào yêu cầu công tác của mỗi Toà án nhân dân địa phương mà hướng dẫn cụ thể về số thẩm phán và uỷ viên Uỷ ban thẩm phán cần bầu trong phạm vi quy định nói trên.

Pháp lệnh này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội thông qua tại Hà nội ngày 15 tháng 1 năm 1970./.

Trường Chinh

(Đã ký)

Cần hỗ trợ thực hiện văn bản này?

Đối tác dịch vụ đã được kiểm tra.