1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với UBND các tỉnh khẩn trương tiến hành ngay việc cắm mốc, xác định địa giới các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng tự nhiên. Nghiêm cấm việc chặt phá khai thác các lọai rừng này, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm.
2. Chủ tịch UBND tỉnh phải chịu trách nhiệm về quản lý nhà nước đối với từng lọai rừng trên địa bàn của địa phương, chỉ đạo các cấp chính quyền huyện, xã thực hiện đầy đủ chức năng quản lý nhà nước tòan diện trên địa bàn. Khắc phục và chấm dứt ngay tình trạng phá rừng bừa bãi. Nghiêm cấm những người di cư tự do vào rừng chặt phá đốt rừng, làm nương rẫy và chiếm đất rừng làm đất ở. Chỉ đạo sâu sát chính quyền cấp huyện, xã kiểm tra phát hiện kịp thời các trường hợp xâm nhập vào rừng trái phép, ngăn chặn trước không để rừng bị phá. Cương quyết xóa bỏ mọi lọai cây ngắn ngày đang trồng trên diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng nguyên sinh. Ngăn chặn hiện tượng đốt phá rừng kiểu "da báo", không để loang rộng. Những nơi đã bị đốt phải bắt buộc khoanh lại để rừng tái sinh phục hồi và trồng dặm để tạo lại thảm rừng cũ.
3. Các tỉnh có rừng phải tổ chức lực lượng đủ mạnh để bảo vệ rừng, triệt phá những ổ nhóm lâm tặc hung hãn cố ý phá rừng. Các lực lượng quân đội, công an có kế họach phối hợp với lực lượng kiểm lâm và ngàng lâm nghiệp tiến hành kiểm tra, cưỡng chế tất cả những người di cư tự do đã vào sâu các vùng rừng nguyên sinh, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, tập trung, chuyển số dân này vào những khu quy họach nhất định, bố trí đất đai cho họ để làm ăn sinh sống. Những trường hợp không chịu ở theo quy họach chung thì người của tỉnh nào, tỉnh đó phải đưa về tái định cư ở quê cũ. Những kẻ chống đối, tiếp tục phá rừng là hành động phá họai tài nguyên quốc gia, hủy diệt môi trường của cộng đồng và xã hội phải cương quyết xử lý nghiêm khắc theo luật pháp. Cần phối hợp tốt giữa các lực lượng trên địa bàn, kết hợp các biện pháp tuyên truyền, vận động, phát hiện và xử lý những phần tử cố ý không tuân thủ pháp luật bảo vệ và phát triển rừng.
4. Cấm xuất khẩu gỗ và các lọai sản phẩm chế biến từ gỗ, trừ hàng gỗ thủ công mỹ nghệ. Khuyến khích nhập khẩu gỗ, sử dụng các nguyên liệu thay thế gỗ, tiết kiệm sử dụng gỗ trong sản xuất và tiêu dùng. Có kế họach khai thác gỗ từ rừng trồng đảm bảo nhu cầu sản xuất tiêu dùng trong nước (gỗ trụ mỏ, nguyên liệu giấy, ván nhân tạo...). Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp báo cáo, trình Thủ tướng Chính phủ hướng xử lý số gỗ đã được cấp giấy phép xuất khẩu năm 1996 còn tồn đọng và gỗ pơ-mu quy định tại Nghị định số 821/TTg ngày 06/11/1996; báo cáo Thủ tướng quyết định việc giao chỉ tiêu khai thác, nhập khẩu, tiêu thụ, chế biến gỗ và quản lý chặt chẽ việc thực hiện; xây dựng phương án tổ chức đầu mối nhập khẩu gỗ phục vụ nhu cầu trong nước và chế biến xuất khẩu. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan đề xuất chính sách khuyến khích các cơ sở gia công chế biến gỗ xuất khẩu chuyển sang sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến đồ gỗ cho tiêu dùng trong nước. Đối với những liên doanh đầu tư trồng rừng (kể cả đầu tư 100% vốn nước ngòai) tiếp tục thực hiện theo giấy phép đầu tư đã thỏa thuận. Chủ tịch UBND các tỉnh chỉ đạo thu gom hết số gỗ rừng bị chặt phá khai thác không có phép, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo Thủ tướng Chính phủ phương hướng xử lý. Kiểm tra, xử lý nghiêm việc mua bán, tiêu thụ gỗ khai thác bất hợp pháp. Đẩy mạnh việc triển khai trồng rừng nguyên liệu và khẩn trương hòan tất các thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt dự án để ưu tiên đầu tư xây dựng các nhà máy ván sợi ép (MDF) chế biến gỗ rừng trồng thay thế gỗ tự nhiên.
5. Bộ Công nghiệp chủ trì phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các ngành có liên quan đề xuất các giải pháp thay thế chất đốt bằng gỗ rừng tự nhiên cho sản xuất công nghiệp như xóa bỏ các lò gạch thủ công đốt củi thay bằng các là gạch tuy nen, sử dụng các chất đốt thay thế củi trong sản xuất gốm sứ. Khuyến khích dùng khí hóa lỏng, dùng điện, than đá thay cho dùng củi đốt trong tiêu dùng của nhân dân đô thị. Tuyên truyền khuyến khích nhân dân các vùng nông thôn (đồng bằng, trung du, miền núi) đẩy mạnh việc trồng cây phân tán để giải quyết nhu cầu củi đốt và gỗ dân dụng thay gỗ rừng tự nhiên.
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các Bộ ngành có liên quan và UBND các tỉnh lập Dự án và chỉ đạo một số công việc sau đây: Kiểm kê các lọai rừng trên phạm vi cả nước, ưu tiên trước khu vực Tây nguyên để xác định, phân lọai, quy họach và có phương án bảo vệ khoanh nuôi, trồng rừng nhất là các khu rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Đối với các khu rừng quá nghèo kiệt, không có giá trị kinh tế thì thay bằng các lọai cây công nghiệp, nhất là cao su. Nghiên cứu tập đòan cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của các vùng núi đặc biệt là ở Tây Nguyên để bố trí sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao. Quy họach xác định rõ đất lâm nghiệp và đất chuyển sang cho nông nghiệp để sử dụng hợp lý có hiệu quả. Xây dựng phương án tổ chức lại một cách cơ bản hệ thống lâm trường quốc doanh theo hướng họat động của các doanh nghiệp công ích, chủ yếu làm chức năng lâm sinh, dịch vụ, cung ứng vật tư, khoa học kỹ thuật, giống cây trồng, đào tạo kỹ thuật lâm nghiệp, khuyến lâm, khuyến nông.
7. Giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chủ trì phối hợp với Ban Tổ chức Chính phủ và các cơ quan liên quan nghiên cứu phương án đổi mới, kiện tòan hệ thống kiểm lâm. Tăng cường sự quản lý thống nhất của Trung ương về nghiệp vụ, sự chỉ đạo trực tiếp của tỉnh. Có cơ chế phối hợp giữa kiểm lâm với các lực lượng vũ trang và các cơ quan bảo vệ pháp luật trên địa bàn; trang bị các phương tiện, công cụ hỗ trợ và vũ khí cho lực lượng kiểm lâm để thực hiện tốt chức năng kiểm tra bảo vệ rừng. Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra đẩy mạnh việc thực hiện giao đất, giao và khóan rừng cho hộ gia đình nông dân. Nghiên cứu trình Chính phủ ban hành cơ chế phân phối lợi ích trong việc giao đất, giao và khóan rừng cho hộ gia đình, để hộ gia đình khi được nhận đất, nhận rừng, ký thỏa thuận cam kết về trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc rừng, đồng thời được hưởng tỷ lệ thỏa đáng với giá trị sản phẩm khi khai thác rừng. Phải công bố công khai, bàn bạc dân chủ với nhân dân về nội dung giao đất giao và khóan rừng, về trách nhiệm và quyền lợi được hưởng để hộ gia đình yên tâm nhận đất nhận rừng và thật sự là chủ rừng. Phối hợp với Bộ Quốc phòng và UBND các tỉnh có phương án tuyển dụng lao động chọn lọc, thông qua các đơn vị quốc phòng làm kinh tế để trồng và bảo vệ rừng ở các khu vực thưa dân. Có kế họach bố trí để số lao động này định cư lâu dài gắn bó với rừng.
8. Bộ trưởng các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế họac và Đầu tư, Tài chính, Quốc phòng, Nội vụ, Lao động, Thương binh – Xã hội theo chức năng của mình có kế họach triển khai, chỉ đạo UBND các tỉnh thực hiện các nội dung chỉ thị này, báo cáo Thủ tướng Chính phủ./. THỦ TƯỚNG (Đã ký) Võ Văn Kiệt