Căn cứ vào kế họach sản xuất, xây dựng và tiêu chuẩn đã quy định, các đơn vị sẽ lập ra kế họach như sau:
a) Đối với bộ đội, cơ quan, trường học, bệnh viện, công trường:
1) Kế họach chi hàng qúy và dự tóan xin kinh phí hàng tháng của các đơn vị dự tóan cao cấp (1,2,3) cần ghi rõ nhu cầu về gạo ( theo thông tư Liên bộ số 10) và nhu cầu vật liệu hàng hóa cần mua các Công ty Mậu dịch hay xí nghiệp quốc doanh khác. Dựa theo đó mà phân tích số chi bằng chuyển khỏan và nhu cầu chi tiệu bằng tiền mặt khi gữi cho cơ quan Tài chính xét duyệt thì trích phần nhu cầu hàng hóa(tức dự trù mua hàng) gữi cho Ty (hay Sở) Công thương hoặc Công ty Mậu dịch trực tiếp phần nhu cầu, phần nhu cầu tiền mặt( tức kế họach tiền mặt) gữi cho Ngân hàng nơi mở tài khàon, để các cơ quan đó dự trù kế họach cung cấp.
2) Khi xét duyệt dự tóan, cơ quan tài chính cần lưu ý cả phần chi chuyển khỏan, (tức nhu cầu hàng hóa vật liệu)và tiền mặt các đơn vị đề nghị. Trường hợp đơn vị dự trù không hợp lý cần tăng lên hoặc giảm bớt cấp phát , mà số tăng giảm đó thuộc vào nhu cầu nào ( hàng hóa vật liệu hay tiền mặt ) thì cũng ghi rõ trên thông thi duyệt y dự tóan phải báo cho Ngân hàng và công thương điều chỉnh kế họach theo nhu cầu mới được duyệt .
3) Nhà công thương hay Công ty Mậu dịch nhận được nhu cầu các lọai hàng hóa vật liệu của cơ quan, đơn vị gữi đến xin mua phải tổng hợp lại đối chiêu1 với khả năng có thể đảm bảo được thi lập thành kế họach cung cấp và báo cho cơ quan, đơn vị gữi đến xin mua biết giá cả và thủ tục giao nhận hàng và thanh tóan. Trường hợp có những lọai hàng thiếu không đủ cung cấp thì cũng phải báo cho co8 quan đơn vị biết trước và giới thiệu giá cả để họ có thể mua ở thị trường. Những trường hợp này cơ quan, đơn vị phải điều chỉnh lại nhu cầu tiền mặt (tức kế họach tiền mặt) và báo lại cho Ngân hàng biết trước. 4)Ngân hàng nhận được nhu cầu tiền mặt của các cơ quan, đơn vị gữi đến, sau khi xét kỹ lại lần nữa các khỏan chi tiêu tiền mặt hoặc vi hòan cảnh Mậu dịch thiếu hàng phải chi thêm bằng tiền mặt, thì căn cứ vào các nhu cầu đó mà thiết lập kế họach tiền mặt tổng hợp và tiến hành việc cấp phát tiền mặt cho cơ quan, đơn vị. Trường hợp nhu cầu tiền mặt của các cơ quan, đơn vị tổng hợp lại vượt quá chỉ tiêu kế họach tiền mặt của Ngân hàng Trung ương đã quy định, quá mức chứa đựng của thị trường ảnh hưởng đến vật giá, không thể phát hành được thì phải báo cho Ủy ban biết, triệu tập các ngành giải quyết và điều chỉnh lại kế họach. Nếu không còn khả năng nào tăng thu tiền mặt hoặc mua bằng chuyển khỏan được nữa thì phải hãm bớt những khỏan chi tiêu có thể hõan được để có thể hõan được giãm bớt nhu cầu tiền mặt của các cơ quan, đơn vị. Hõan chi và và giãm bớt tiền mặt của cơ quan nào bao nhiêu, Tài chính Ngân hàng và ngành hữu quan thảo luận để điều chỉnh lại kế họach tiền mặt.
b) Đối với các quốc doanh và xí nghiệp;
1) Hàng qúy và hàng tháng bất luận là quốc doanh xí nghiệp ở TRung ương hay tỉnh, thành phố đều phải gửi đến Ty ( hay Sở) Công thương hoặc công ty Mậu dịch địa phương mình họat động nhu cầu về gạo, các lọai hàng và vật liệu cần mua của Mậu dịch hay xí nghiệp quốc doanh khác; gửi đến Ngân hàng nhu cầu tiền mặt ( tức kế họach tiền mặt ) cần chi tiêu theo phạm vi và thể chức đã quy định.
2) Công thương cùng với các công ty Mậu dịch và Ngân hàng tập hợp lại đối chiếu với khả năng và kế họach phân minh có thể đảm bảo thực hiện được hay đến mức nào, đều phải tiến hành đúng nhu đã quy định ở đỉêm 3 và 4 phần trên. Thực hiện kế họach và thanh tóan.
Căn cứ vào dự tóan, kế họach tiền mặt và kế họach cung cấp hàng hóa, vật liệu đã được phê duyệt, các ngành, các cơ quan đơn vị có trách nhiệm đảm bảo thực hiện đúng kế họach đã phân minh. - Tài chính sẽ cấp phát một lần hoặc nhiều lần, chủyên một phần hay tòan bộ dự tóan đã phê duyệt cho các cơ quan đơn vị tài khỏan gửi ở Ngân hàng. Cơ quan đơn vị sử dụng theo cách rút tiền( phần tiền mặt) và trích tài khỏan trả cho Mậu dịch hay xí nghiệp khác( phần chuyển khỏan)như Nghị định Thủ tướng phủ đã quy định. Riêng phần gạo, thủ tục cấp phát vẫn theo như thông tư Liên bộ số 10 ngày 8-3-1957 đã quy định. - Mỗi khi cơ quan, đơn vị đến nhận hàng Mậu dịch hay xí nghịêp quốc doanh khác phải thanh tóan ngay bằng séc hay phiếu chuyển khỏan qua Ngân hàng. Ngân hàng nhận được giấy báo trích tài khỏan phải ghi số ngay và phải ghi giấy báo nợ , báo cho cơ quan và mua và bán hàng trong ngày hôm đó. - Trường hợp có cơ quan, đơn vị, xí nghiệp muốn mua hàng ở địa phương khác( địa phương mình họat động không có hoặc thiếu) cũng phải áp dụng dùng nguyên tắc trên. Nghĩa là phải chuyển tiền qua Ngân hàng, đến nơi mua hàng cũng phải mua qua Mậu dịch hoặc theo sự hướng dẫn của Công thương nếu phải mua ngòai, đồng thời báo cho Ngân hàng biết mới được rút tiền mặt ra mua ở thị trường. III.- KIỂM SÓAT VÀ ĐÔN ĐỐC THỰC HIỆN Dựa theo chế độ quản lý tiền mặt và thông qua việc sử dụng tài khỏan và rút tiền mặt Ngân hàng chịu trách nhiệm chính về việc kiểm sóat các cơ quan , đơn vị xí nghiệp thực hiện đúng các điểm đã quy định trên. Thường xuyên cần phát hiện những lệch lạc giúp cho Tài chính và Công thương phối hợp đôn đốc các cơ quan , đơn vị thi hành. Ngòai ra Ngân hàng gửi cho cơ quan Tài chính đồng cấp bản sao kê tài khỏan của các cơ quan, đơn vị để bố trí việc cấp phát khỏi lãng phí. Cơ quan tài chính căn cứ vào phát hiện của Ngân hàng và quyết tóan hàng qúy, hàng tháng của các cơ quan đơn vị mà kiểm sóat chặt chẽ việc sử dụng kinh phí, cương quyết không thanh tóan những khỏang mua hàng tháng của tư nhân mà không có khả năng cung cấp và đã theo giá công thương hướng dẫn. Thi hành các điểm trên đây là ký luật tài chính Các Bộ, các ngành chịu trách nhiệm phổ biến và hướng dẫn biện pháp cụ thể cho các đơn vị thuộc ngành mình chấp hành./. K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ THƯƠNG NGHIỆP THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Đặng Việt Châu TỔNG GIÁM ĐỐC NGÂN HÀNG QUỐC GIA VIỆT NAM (Đã ký) Lê Viết Lượng K.T. BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH. THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trịnh Văn Bính