a) Bản thân người phải thực hiện việc kiểm tra hoặc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự, để tuyển chọn đi đào tạo sĩ quan dự bị; chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi đi đào tạo sĩ quan dự bị, lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu nhưng bị ốm hoặc trên đường đi bị ốm, bị tai nạn.
b) Thân nhân của người nêu tại điểm a, như bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ (gồm cả bố mẹ nuôi của vợ hoặc chồng) vợ (chồng), con (gồm cả con đẻ và con nuôi) đang bị ốm nặng.
c) Nhà ở của người nêu tại điểm a hoặc nhà của các đối tượng là thân nhân nêu tại điểm b nằm trong vùng đang bị thiên tai như bão, lụt, lở đất, động đất, dịch bệnh, hỏa họan làm ảnh hưởng đến cuộc sống. Các trường hợp nêu tại các điểm a, b, c phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc bệnh viện, trạm y tế cấp xã.
d) Người nêu tại điểm a không nhận được giấy gọi kiểm tra sức khỏe, lệnh gọi nhập ngũ, lệnh gọi đi đào tạo sĩ quan dự bị, lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu do lỗi của người hoặc cơ quan có trách nhiệm hoặc do hành vi của người khác gây khó khăn hoặc cản trở như hướng dẫn tại điểm 4 phần II Thông tư này. 2- Hành vi gian dối hoặc mua chuộc nhân viên y tế để làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự quy định tại khỏan 2 Điều 8, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ đi đào tạo sĩ quan dự bị quy định tại khỏan 3 Điều 12 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP, là:
a) Hành vi gian dối là khai báo về tình trạng sức khỏe của mình không đúng sự thật như đưa ra những bệnh mà bản thân mình không có hoặc sử dụng thuốc hoặc biện pháp khác để tức thời biểu hiện các triệu chứng như đang mắc bệnh, ví dụ: mắt nhìn tốt nhưng khai báo là thị lực kém và cố tình đọc sai bảng chữ cái khi kiểm tra thị lực; uống thuốc để bị phù nề như đang mắc bệnh nặng... hoặc các hành vi như sửa chữa kết luận về tình trạng sức khỏe, tráo người khác không đủ sức khỏe để khám sức khỏe thay.
b) Hành vi mua chuộc nhân viên y tế để làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe là dùng mọi thủ đọan bằng tình cảm hoặc vật chất để tác động đến nhân viên y tế có trách nhiệm với việc kiểm tra hoặc khám sức khỏe để làm sai lệch các yếu tố về sức khỏe dẫn đến kết luận không đủ sức khỏe để làm nghĩa vụ quân sự, đi đào tạo sĩ quan dự bị. 3- Hành vi vi phạm quy định về làm nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ.
a) Hành vi đào ngũ quy định tại khỏan 1, khỏan 2 Điều 11 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP là tự ý rời bỏ hàng ngũ quân đội với mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ. Biểu hiện của hành vi này là tự ý đi khỏi đơn vị hoặc trong lúc đi công tác, đi phép, đi chữa bệnh, an dưỡng, chuyển đơn vị sau đó không về đơn vị đúng thời gian quy định. Người chỉ huy đơn vị quân đội cấp Trung đòan và tương đương khi đã có căn cứ xác định quân nhân đào ngũ phải kịp thời ra văn bản thông báo quân nhân đào ngũ, trong đó ghi rõ đơn vị đã cắt quân số. Thời điểm xác định hành vi vi phạm để xử phạt là khi Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan quân sự cấp huyện nhận được giấy thông báo quân nhân đào ngũ và cắt quân số của chỉ huy đơn vị quân đội cấp Trung đòan và tương đương.
b) Chứa chấp, bao che quân nhân đào ngũ quy định tại khỏan 3, Điều 11 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP là hành vi để quân nhân đào ngũ lẩn trốn ở nhà hoặc ở cơ quan, tổ chức mà không khai báo với người hoặc cơ quan có thẩm quyền; làm các giấy tờ để hợp pháp hóa cho hành vi đào ngũ. 4- Hành vi gây khó khăn hoặc cản trở người có trách nhiệm thực hiện các quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, thực hiện lệnh gọi nhập ngũ, thi hành các quy định về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự quy định tại khỏan 1, khỏan 2 Điều 10; gây khó khăn hoặc cản trở người có trách nhiệm chấp hành giấy gọi kiểm tra sức khỏe hoặc lệnh gọi đi đào tạo sĩ quan dự bị quy định tại khỏan 4 Điều 12; gây khó khăn hoặc cản trở quân nhân dự bị thực hiện các quy định về tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu quy định tại khỏan 2 Điều 13 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP, là: Hành vi gây khó khăn hoặc cản trở do cá nhân hoặc tổ chức thực hiện, thể hiện bằng một trong các hành vi như không thông báo hoặc thông báo chậm các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ hoặc dùng lời nói, hành động để đe dọa ngăn cản người khác thực hiện trách nhiệm và nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Người có trách nhiệm thi hành các quy định về thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự là những người có trách nhiệm trong việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, đăng ký quân nhân dự bị, khám sức khỏe, tuyển chọn người nhập ngũ, gọi nhập ngũ, gọi quân nhân dự bị tập trung huấn luyện...; những người này có thể là thành viên của Hội đồng nghĩa vụ quân sự hoặc người được giao thực hiện các nhiệm vụ đó. 5- Hành vi cản trở việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ quy định tại khỏan 1 Điều 20 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP biểu hiện bằng lời nói hoặc hành động như ngăn cản, đe dọa về vật chất hoặc tinh thần để người khác không dám tham gia dân quân tự vệ hoặc làm cho người có trách nhiệm trong việc tổ chức, điều hành lực lượng dân quân tự vệ không dám tổ chức hoặc thực hiện nhiệm vụ của mình đối với việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ. 6- Khi xem xét hành vi vi phạm quy định tại các điều 23, 24, 26 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP thì việc xác định khu vực cấm, khu vực bảo vệ, vành đai an tòan của công trình quốc phòng và khu quân sự là căn cứ vào biển báo, cột mốc, rào chắn hoặc ranh giới có người canh gác, bảo vệ. 7- Hành vi loan truyền tin tức bí mật của công trình quốc phòng và khu quân sự hoặc nơi có công trình quốc phòng và khu quân sự quy định tại khỏan 1 Điều 25 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP, được thể hiện bằng lời nói hoặc qua thư từ để người khác biết được các tin tức bí mật về công trình quốc phòng và khu quân sự. 8- Hành vi đổ rác, chất thải vào bên cạnh công trình quốc phòng quy định tại điểm a, khỏan 2, điểm b, khỏan 3 Điều 26 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP được xác định nằm trong phạm vi ranh giới liền kề với công trình quốc phòng, nếu đổ rác, chất thải, đào, bới khai thác vật liệu... ở vị trí đó sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công trình quốc phòng. 9- Hành vi xây dựng công trình làm ảnh hưởng đến công trình quốc phòng và khu quân sự quy định tại khỏan 4 Điều 26 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP là mọi trường hợp xây dựng công trình trong khu vực của công trình quốc phòng và khu quân sự chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền. 10- Hành vi lấn chiếm đất quốc phòng quy định tại khỏan 1 Điều 28 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP nếu chưa đến mức xử lý bằng hình sự thì xử phạt vi phạm hành chính, không kể diện tích nhiều hay ít. Tuy nhiên khi xử phạt cần cân nhắc đến diện tích lấn chiếm, mục đích lấn chiếm, tính chất quan trọng của vị trí đất đã lấn chiếm để quyết định việc xử phạt và áp dụng mức phạt tiền cụ thể cho phù hợp. 11- Phương tiện vận tải quân sự quy định tại Điều 29, Điều 30 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP bao gồm phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không và các phương tiện vận tải có gắn biển số dành riêng cho Quân đội hoặc các phương tiện vận tải đang được huy động sử dụng vào mục đích quân sự. Hành vi giả danh mô tô, ô tô và phương tiện vận tải quân sự quy định tại Điều 30 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP là gắn biển số xe quân sự, sơn hoặc gắn biển hiệu, cờ hiệu chỉ dành riêng cho Quân đội và họat động quân sự vào mô tô, ô tô và phương tiện vận tải khác không thuộc trang bị của Quân đội hoặc không phải phương tiện vận tải đang huy động sử dụng vào múc đích quân sự. 12- Hành vi vi phạm quy định về sử dụng quân trang.
a) Quân trang bao gồm các lọai đã quy định cụ thể tại các Điều 31, 32, 33 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP và các lọai quân trang khác như dầy, dép, ba lô, tăng, võng, áo khóac, chăn, màn, bao, túi đựng hoặc các dụng cụ dùng cho sinh họat, huấn luyện, chiến đấu của Quân đội.
b) Hành vi làm giả quân trang quy định tại khỏan 1 Điều 33 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP là việc sản xuất các chủng lọai, mẫu mã giống với chủng lọai, mẫu mã quân trang mà Quân đội và các cơ sở được Nhà nước giao đã sản xuất, khi sử dụng sẽ khó phân biệt thật giả.
c) Hành vi sản xuất, làm giả các lọai quân trang, phù hiệu, biển công tác, cờ hiệu dành riêng cho Quân đội khi làm nhiệm vụ quy định tại khỏan 1 Điều 33, khỏan 1 Điều 36 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP nếu chưa đến mức xử lý bằng hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính, không kể số lượng nhiều hay ít. Tuy nhiên khi xử phạt cần cân nhắc đến số lượng, tính chất vi phạm để quyết định áp dụng mức phạt tiền cụ thể cho phù hợp. III. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC XỬ PHẠT VÀ CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH 1- Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, chấp hành quyết định xử phạt, đình chỉ hành vi vi phạm và cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt thực hiện theo Điều 45, Điều 46 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP và các Điều 18, 19, 20, 21, 22, 23, 27, 28, 29, 30 của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP. Các mẫu biểu liên quan đến xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng thực hiện theo quy định của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP. 2- Việc xử lý giấy tờ, tang vật, phương tiện bị tạm giữ để bảo đảm thi hành quyết định phạt tiền trong trường hợp được hõan chấp hành quyết định phạt tiền, thực hiện theo Điều 26 của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP. 3- Việc xác định giá trị và xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, thực hiện theo các Điều 31, 32, 33, 34 của Nghị định số 134/2003/NĐ-CP. 4- Việc thu nộp tiền phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng thực hiện theo quy định tại Điều 44 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP, Điều 25 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP và hướng dẫn của Bộ Tài chính. 5- Trình tự, thủ tục áp dụng hình phạt trục xuất đối với người nước ngòai. Khi áp dụng hình phạt trục xuất đối với người nước ngòai vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng (là hình thức xử phạt chính hoặc xử phạt bổ sung) thì trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày ra quyết định xử phạt, người xử phạt gửi quyết định xử phạt và các tài liệu có liên quan đến việc xử phạt, áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính (nếu có) đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh của Bộ Công an để tiến hành các thủ tục trục xuất theo quy định của pháp luật. Việc quản lý đối với người nước ngòai trong thời hạn làm thủ tục trục xuất, thực hiện theo quy định của pháp luật. 6- Thủ tục yêu cầu thi hành quyết định cưỡng chế và trách nhiệm của lực lượng kiểm sóat quân sự thi hành quyết định cưỡng chế của Chánh thanh tra quốc phòng các cấp quy định tại khỏan 5 Điều 46 của Nghị định số 151/2003/NĐ-CP. Chánh Thanh tra quốc phòng đã ra quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính có văn bản yêu cầu người chỉ huy đơn vị có lượng kiểm sóat quân sự đóng quân trên địa bàn hoặc nơi có vụ việc phải cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì người chỉ huy đơn vị có trách nhiệm đáp ứng các yêu cầu đó. Việc tổ chức, điều hành Lực lượng kiểm sóat quân sự làm nhiệm vụ thi hành quyết định cưỡng chế do người có thẩm quyền thực hiện quyết định cưỡng chế thựchiện. Khi thực hiện việc cưỡng chế phải đúng quy định của pháp luật. IV. HIỆU LỰC THI HÀNH . Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng công báo. Quá trình thực hiện nếu có vướng mắc cần phản ánh kịp thời về Bộ Quốc phòng để hướng dẫn bổ sung. Phạm Văn Trà (Đã ký)