a) Ở các công trường kiến thiết cho thầu - Nếu có cán bộ công nhân viên của xí nghiệp xây lắp bao thầu phải chờ việc vì đơn vị kiến thiết không thi hành đúng hợp đồng, để lỡ thời hạn thi công, thì những chi phí cho số cán bộ công nhân viên này sẽ do đơn vị kiến thiết phải bồi thường cho đơn vị xây lắp như đã ký kết trong hợp đồng và sồ tiền bồi thường này tính vào vốn kiến thiết cơ bản của mình. Khỏan bồi thường này hạch tóan vào tài khỏan (0.50) “Chi phí về quản lý hành chính” của đơn vị kiến thiết; khi quyết tóan công trình và được cơ quan chủ quản chuẩn y, sẽ cho chuyển sang tài khỏan (201.B) “Phí tổn không tăng thêm giá trị tài sản cố định”. - Nếu có cán bộ công nhận viên của xí nghiệp xây lắp bao thầu phải chờ việc vì lỗi của bản thân xí nghiệp bao thầu, như bố trí kế họach không sát, hoặc để lỡ thời hạn thì công đã quy định trong hợp đồng ký với đơn vị kiến thiết v.v… thì xí nghiệp bao thầu phải chịu trách nhiệm trả lương. - Nếu cán bộ công nhân viên phải chờ việc vì Nhà nước thay đổi, chương trình kế họach kiến thiết thì chi phí cũng sẽ lấy vào vốn kiến thiết cơ bản của Bộ chủ quản. Trường hợp chưa thi công thì khỏan quy định này hạch tóan vào tài khỏan (0.50) “Chi phí quản lý hành chính” của đơn vị kiến thiết; nếu đã thi công rồi thì hạch tóan vào tài khỏan (201.D) “Công trình kiến thiết cơ bản ngừng bỏ”.
b) Ở các công trường kiến thiết tự làm, nếu có những cán bộ công nhân viên không ở trong biên chế chính thức, huy động từ sau hòa bình, khi tuyển chưa có chế độ quy định huy động phí, đã công tác liên tục qua nhiều công trường, nay được thôi việc, thì chi phí về trợ cấp thôi việc do công trường sử dụng cuối cùng trả; chi phí này lấy vào vốn kiến thiết cơ bản của Bộ chủ quản công trường cuối cùng và hạch tóan vào tài khỏan (201.B) “Chi phí không tăng thêm giá trị tài sản cố định”. Nếu công trường sử dụng cuối cùng thuộc xí nghiệp xây lắp thì số chi phí này do xí nghiệp xây lắp phải chịu và coi như bị lỗ. 2.- Trường hợp rất cá biệt có xí nghiệp, công trường, nông, lâm trường được Thủ tướng phủ đồng ý cho tiến hành chấn chỉnh biên chế để rút hẹp sản xuất, xây dựng, thì có thể được cấp kinh phí để trợ cấp cho người thôi việc về sản xuất vào qũy cứu tế của Nhà nước, trong trường hợp này tiền lương và các khỏan chi phí khác cho cán bộ, công nhân viên trong thời gian chờ đợi về (nếu có) cũng vẫn do xí nghiệp, công trường, nông, lâm trường phải trả và tính vào giá thành như trên. Trong trường hợp này, Bộ chủ quản xí nghiệp, công, nông, lâm trường cần có đề nghị cụ thể với Thủ tướng phủ; khi được Thủ tướng phủ đồng ý, sẽ lập kế họach đưa số người về sản xuất, có chia ra từng tháng (chậm nhất là cuối kỳ III năm 1958 phải giải quyết xong) gửi Thủ tướng phủ xét duyệt, đồng thời lập dự tóan gửi Bộ Tài chính (Vụ Tài vụ kiến thiết kinh tế) xét duyệt. Đối với số cán bộ công nhân viên ở các quốc doanh nông trường, lâm khẩn hiện thời đã có kế họach cho về sản xuất được duyệt y rồi, thì cần giải quyết gấp, tránh để dây dưa; tiền trợ cấp thôi việc được cấp vào qũy cứu tế của Nhà nước. 3.- Đặc biệt đối với số cán bộ công nhân viên “nằm chờ” còn lại của các Bộ Giao thông Bưu điện, Nông lâm, Thủy lợi Kiến trúc đã giao cho Ủy ban Hành chính Liên khu 4 quản lý và giải quyết đến 31-12-1957 thì Ủy ban Hành chính Liên khu 4 lập ngay kế họach giải quyết từng qúy, kèm dự tóan như đã nói ở trên, gửi thẳng Bộ Tài chính (Vụ Văn hóa xã hội) xét duyệt và cấp kinh phí vào qũy cứu tế của Nhà nước, không cần phải gửi cho Thủ tướng phủ duyệt y nữa. Thông tư này thay thế công văn số 125/TC/KTKT ngày 29 tháng 1 năm 1958 của Bộ Tài chính gửi các Bộ về vấn đề thanh tóan chi cho “nhân lực thừa”. Trong quá trình thi hành, nếu thấy có vấn để gì còn mắc mứu, xin qúy Bộ báo cho Bộ chúng tôi nghiên cứu bổ sung. K.T BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH THỨ TRƯỞNG (Đã ký) Trịnh Văn Bính